Tôi cũng có khả năng về toán. Thi chuyển cấp từ 9 lên 10 (3 môn), môn toán tôi được 10. Cấp 3 thì học hơi tệ. À còn trước đó nữa, những năm lớp 6,7 tôi rất mê khối Rubic. Nghĩ ra được cách giải riêng. Giải tốc độ nhanh nhất lúc đó là 47 giây (trung bình 3 lần vặn). Bây giờ vẫn còn nhớ phương pháp và vẫn có thể vặn dưới 1 phút. Với mô hình trên thì việc triển khai phân tích hay bình luận hay phê bình một tác phẩm văn học là quá trình giải mã ở 3 mức:
- Mức mục-tượng: là mức logic thực chứng nhất, sát với kinh nghiệm đời sống.
- Mức hình-tượng: là góc nhìn nghệ thuật của tác giả.
- Mức biểu-tượng: là khẳng định các giá trị của tác phẩm.
- Xuyên suốt tác phẩm chính là ý thức hệ, nó chi phối toàn bộ tác phẩm. Ý thức hệ là những biểu hiện tinh tế nhất của tác phẩm.
Tất thảy các mức phân tích này nằm trong ngữ cảnh của từng chương và của toàn bộ tác phẩm. Hai mức đầu thường là phân tích theo ngữ cảnh chiều ngang (chiều của cú pháp hay ngữ đoạn), hai mức phân tích sau theo chiều dọc (hệ biến hóa - thường là ngoài tác phẩm).
Toán học phát triển từ mức biểu tượng bề mặt, văn học phát triển từ mức sâu hơn, nhiều tầng hơn nên phân tích tác phẩm văn học là đào sâu những mức đã được mã hóa như trên.
==============
Tham khảo bài viết của Katina Walton, từ Alabama, Mỹ.
Phan Biên dịch.
ĂN HỌC SỐ LÀ GÌ ?
Để được đánh giá là một người có học thức trong xã hội ngày nay, người học phải có kĩ năng văn học số về đọc hiểu và kĩ thuật. Mạng Internet và những hình thức thông tin khác cùng công nghệ truyền thông (ICTs) đang tái cấu trúc việc dọc, viết và cách chúng ta truyền đạt. Ngày nay loại ICTs thông dụng nhất là tìm kiếm các phương tiện, trang web, e-mail, thông điệp tức thì (IM), blog, hệ thống phân phối nội dung (podcast), sách điện tử, wiki, youtube, IPod’s I Pads, và các phần mềm giáo dục. Chúng được sử dụng hàng ngày để bổ sung việc dạy đọc cho học sinh. Khi công nghệ thay đổi từng ngày, những giáo viên dạy đọc, những giáo viên đứng lớp, và những nhà giáo văn học buộc phải có trách nhiệm trong việc tích hợp thành công những công nghệ này vào chương trình giảng dạy của họ nhằm chuẩn bị cho học sinh trở thành những nhà cạnh tranh toàn cầu. Hệ thống trường học của thành phố Huntsville (Alabama, Mỹ) đã trở thành khu vực trường học dẫn đầu trong việc số hóa toàn bộ giáo trình giảng dạy. Cùng với việc hợp tác với Pearson Education (một công ty chuyên về dịch vụ giáo dục - nd), họ đã chuyển tất thảy sách giáo khoa và phụ lục lên mạng. Điều này sẽ đảm bảo rằng mỗi học sinh đều được chuẩn bị để thành công ở đại học và trở thành lực lượng lao động. Có ít nhất bốn yếu tố cung cấp gần như mọi viễn cảnh hiện hành đang được sử dụng nhằm cung cấp những chiều kích nghiên cứu rộng hơn về văn học số (coiro, 2008):
(1) Internet và những ICTs khác cần những thực hành xã hội mới, kĩ năng. chiến lược, và cách sắp đạt sao cho sử dụng hiệu quả;
(2) văn học số là trung tâm của những hoạt động công dân đầy đủ, hoạt động kinh tế và hoạt động cá nhân trong một cộng đồng toàn cầu;
(3) văn học số nhanh chóng thay đổi như sự thay đổi của các công nghệ xác định; và
(4) văn học số là đa thành phần, đa phương thức và đa khía cạnh; vì thế, chúng sử dụng các đa thấu kính nhằm tìm hiểu cách làm thế nào để chu cấp tốt hơn cho học sinh trong thời đại số.
Mạng Internet đang hết sức phát triển và đang trở thành một phần của mỗi tài liệu trong lớp học ở những quốc gia phát triển trên thế giới. Internet đã chứng minh là công cụ giá trị nhất trong nhiều lớp học. Cho dù việc làm cho các lớp học có khả năng truy cập không đảm bảo việc hoàn vốn tối đa thì chính khả năng truy cập đó cũng là một thành công. Công việc trong tương lai xa được gắn kết với phát triển chuyên nghiệp cùng sự thích đáng cá nhân, sự hấp dẫn của hoạt động, và nhận thức về quá trình phát triển nhờ công nghệ tích hợp của giáo viên trong lớp học của họ (Garry, 2012). Để có được thành công, những giáo viên được huấn luyện tốt được tiến cử trong nhiều chương trình văn học. Ý tưởng văn học thời đại biểu đạt một tập hợp kĩ năng thiết yếu bao gồm việc lấy số liệu, cách trình bày, và truyền đạt thông tin hiệu quả. Trong những nổ lực của các nhà giáo dục nhằm hiện đại hóa lớp học và cập nhật chương trình giảng dạy, các giáo viên đã tập trung một cách logic vào công nghệ và công nghệ tích hợp nhằm sáng tạo các cơ hội cho học sinh, để họ có được những kĩ năng kĩ thuật quan trọng. Khi tận dụng văn học truyền thống, học sinh chỉ được dạy tin vào những thông tin được cho.Với văn học số, học sinh phải chứng minh thông tin được cho. Học sinh bây giờ phải tìm bằng chứng trong phạm vi thư viện số toàn cầu rộng lớn thích ứng với những gì họ đang nghiên cứu, đánh giá thông tin nhằm quyết định giá trị của nó, sau đó tổ chức thông tin đó thành những file số hoặc những thư viện điện tử cá nhân khác. Văn học số đang tiến bộ và thay đổi nhanh chóng từng ngày. Những tiến bộ ở cách người giáo viên sử dụng công nghệ trong lớp học đang phát triển ở nhịp độ nhanh. Nhằm đảm bảo học sinh có thể cạnh tranh ở mức toàn cầu, giáo viên phải được huấn luyện trong thế giới luôn thay đổi của văn học số. Việc đọc đã dịch chuyển từ khái niệm một lớp học và một giáo viên. Ngày nay thế giới là con hàu của giáo dục* và người đọc đã truy cập vào tri thức đọc toàn cầu - Katina Walton.
* Nguyên văn:
Today the world is education’s oyster: Từ câu "the world is one's oyster", đại khái là nhiều cơ hội mở ra cho mọi người và họ phải biết cách nắm bắt chúng - nd.
============
==============
Trên một trang mạng về Giáo Dục có bài phỏng vấn GS TS Đinh Quang Báo, ủy viên hội đồng quốc gia giáo dục. Vị giáo sư này tái khẳng định chương trình giáo dục 12 năm và có đề cập đến tích hợp và đơn vị kiến thức. Tuy nhiên, ông cũng đề cập đến giáo dục phân hóa(một hình thức phân ban hay chuyên chọn) như một "công cụ đảm bảo chất lượng" ở phổ thông trung học. Một số cụm từ mà tôi chú ý như định hướng cốt lõi, môn học cốt lõi, phân hóa sâu. Đáng chú ý nhất là đoạn cuối, tôi xin trích lại sau đây:
"Để dễ hình dung về mục tiêu giáo dục, tôi ví dụ thế này: Chúng tôi dạy sử, dạy địa cho học sinh không phải để dạy các em thành một nhà địa lý học hay một nhà sử học mà là dạy các em năng lực sử dụng kiến thức địa lý, kiến thức lịch sử trong cuộc sống. Đây là hai hướng tiếp cận khác nhau. Nếu tôi dạy cho anh thành nhà chuyên môn thì tôi phải cho anh tiếp cận kiến thức theo chuyên ngành hẹp. Hướng tiếp cận này không chỉ không giúp ích cho đại đa số người học mà còn làm cho môn học trở nên khô cứng, khó học, kém hấp dẫn. Nội dung chương trình môn sử hiện nay là một ví dụ tiêu biểu cho cách tiếp cận này. Học sinh học mà không biết dùng kiến thức đó để làm gì, không thấy giá trị gì cả. Nếu cho các em tiếp cận khai thác giá trị của nó trong đời sống thì các em sẽ thích học, sẽ khao khát khám phá, tìm hiểu"..
Như tôi đã nhận xét, giáo dục đến thời điểm này vẫn bị áp đặt những định hướng, là những phân ban chuyên chọn. Học sinh học các lớp chuyên được định hướng để "chuyên" về một môn học nhất định, là lối giáo dục theo kiểu ăn cây nào rào cây nấy hay giáo dục theo kiều mì chính bột ngọt. Do đó tôi đã nghĩ ra khái niệm đơn vị tích hợp tri thức(không biết trước đó có ai đề cập đến khái niệm này không, nhưng hôm nay thấy một vị giáo sư cũng đề cập tương tự, tôi cũng thấy vui
). Nếu đã gọi là tích hợp tri thức thì khó mà định hướng được, ngược lại, khi định hướng thì chỉ có thể chuyên hóa mà thôi. Chẳng hạn như bạn được (gia đình, nhà trường) định hướng toán học thì bạn phải học lớp chuyên toán để sau này trở thành nhà toán học, song không thể gọi bạn là "đơn vị tích hợp tri thức" được. Giáo dục theo lối tích hợp tri thứcthì mỗi cá thể sẽ tự hình thành một xu hướng nào đó, dù bạn có hoạt động trong lĩnh vực khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội thì giá trị của bạn cũng không mấy khác biệt, nghĩa là bạn có thể sử dụng hoặc chịu ảnh hưởng của tri thức tích hợpcủa toàn bộ xã hội. Tương lai, một cách bình đẳng, của mỗi công dân là hòa nhập xã hội chứ khổng thể được định hướngtheo các Viện Nghiên Cứu hay văn bằng, mặc dù ở góc độ cá nhân, mỗi học sinh đều có quyền ấp ủ những ý định riêng của họ. Thứ nữa, nếu đã nói đến tích hợp tri thức thì đừng nên đề cập đến việc phải sử dụng tri thức để làm gì. Đến đây thì tôi có thể phát biểu thành một định luật được rồi:
- Tri thức không có mấy khác biệt và bất khả dụng. Tri thức chỉ khác biệt và khả dụng ở khả năng tích hợp của mỗi cá thể sử dụng nó.
Vấn đề nữa là nền giáo dục hiện nay quá lạm dụng thuật ngữ, nào là giáo dục công dân, nào là khoa học rồi lại công nghệ và kĩ thuật nữa, rồi thì là tìm hiểu xã hội, sau đó thì là khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Có một vị còn đề tựa sách giáo khoa cấp 1 là lối sống nữa chứ....(!?). Tất thảy những khái niệm này nên tập trung vào một môn học hiện đại của các nước phát triển: Văn Học Số.
Đây là một mô hình mà tôi tích hợp được: