Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

RUBIC


Ý TƯỞNG VỀ RUBIC

Ai biết chơi Rubic hẳn phải biết là xóa một khối Rubic dễ hơn rất nhiều so với việc đưa nó về trạng thái ban đầu, như hình tôi minh họa dưới đây: 


Từ (1) sang (2) gọi xóa khối Rubic: chỉ cần vặn ngang dọc năm bảy đường thì ta được (2). 

Tuy nhiên, vấn đề lại là việc đưa (2) trở về tình trạng nguyên thủy 6 mặt 6 màu ban đầu. Nếu từ (1) sang (2) chỉ cần năm bảy đường vặn thì từ (2) sang (3) cần nhiều tư duy, lí thuyết, phương pháp và dĩ nhiên nhiều đường vặn hơn.Vì chúng ta không thể trở lùi thời gian nên phải theo một hướng giải quyết nào đó, nghĩa là buộc phải đưa (2) đi theo một trình tự đã biết của mình. Cũng như toán học, chúng ta học toán không phải để tìm đáp số, mà để đặt vấn đề. Vấn đề được đặt ra tiếp theo là: liệu toán học có sát thực và là con đường ngắn nhất để đi đến một kết quả nào đó hay không? Như khối Rubic (2), con đường ngắn nhất để đến (3) là trở lui về (1), xóa như thế nào thì làm ngược lại như thế. 

Một vấn đề phụ nữa là việc xóa có một giới hạn nào đó không? Theo cảm nhận của tôi thì xóa một khối Rubic phải nằm trong một giới hạn các đường xóa, nghĩa là việc giải khối Rubic không phụ thuộc vào số đường xóa. 

Trở lại vấn đề chính thì tôi có thể nói khối Rubic (2) đang ở một trạng thái "đa cách". Có vô số phương pháp hay công thức có thể áp dụng cho tình trạng đa cách này và ta phải chọn phương pháp hay công thức nào phù hợp nhất để giải nó nhanh nhất. Liệu trong tất thảy các cách giải ở tình trạng đa cách này, có cách nào trùng lặp với việc trở lui từ (2) về (1) không? Quả là rất khó đối với trí tuệ con người. Kỉ lục thế giới về giải Rubic chỉ vào khoảng mười mấy giây thì hẳn phương pháp đó cũng chỉ khá gần với việc "đi ngược dòng thời gian". 

Phải chăng toán học là cách con người đi ngược thời gian?Tớ còn một số ý tưởng về Rubic, sẽ trình bày sau.... 
------------

Nếu chúng ta qui những thuộc tính Rubic cho Giáo Dục thì phải hiểu như thế nào? 

Gần đây có nhiều nhân vật tiếng tăm nói, hay đúng hơn là ta thán, về giáo dục VN. Họ bê nguyên những nền giáo dục Âu Mỹ Nhật, nhất là nước Anh xứ sở sương mù về và muốn đặt nó ngay tại thủ đô Hanoi nghìn năm văn vật .... Mới tháng trước tớ đọc một bài báo nói người Nhật họ sẽ bỏ cả thi tuyển sinh cơ đấy, nay đã nghe lão Hạc hét lên "học để đi thi là thảm họa" ! Ối giồi ơi ! Nếu mà học chẳng để thi thì mất bố nó một nguồn động lực.


Nếu so với khối rubic thì giáo dục nói chung nên sánh với tính trạng nào của khối rubic? Nếu giáo dục hoàn hảo như Âu Mỹ Nhật thì cần gì phải giáo dục . Thế nên giáo dục phải sánh với tình trạng hỗn độn của khối Rubic, thậm chí mỗi cá nhân học sinh cũng có thể sánh với tình trạng hỗn độn này, sự hoàn hảo của khối Rubic chính là môi trường hay văn cảnh. Rõ ràng văn cảnh của VN khác với văn cảnh Âu Mỹ Nhật. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập toàn cầu thì văn cảnh VN phải có cả độ phức hợp nữa, nghĩa là nó phải bao trùm luôn giáo dục Âu Mỹ Nhật. Nói cách khác chúng ta đang ở tình trạng hỗn độn (chaotic) và rắc rối (complicated) như khối Rubic vậy, nó bao trùm luôn sự phức hợp (complex) là những giải pháp. Những kẻ học Âu Mỹ Nhật họ chỉ việc khảo sát, ý thức và đáp ứng các nhu cầu của xã hội VN thôi, mà đúng ra chúng ta (những người đã và đang sống trong xã hội VN) cần phải ý thức, phân tích, hành động rồi mới đáp ứng. Như sơ đồ Cơ Cấu Môi Trường của Dave Snowden đã chỉ ra: 


Tình trạng rắc rối và hỗn độn của giáo dục VN cũng có thể sánh với khối rubic như tôi đã nêu. Chúng ta có n cách giải quyết, cho riêng mình và cho cả nền giáo dục. Vấn đề chính là chúng ta có chấp nhận n cách giải quyết không? Các ông giáo dục đã đẻ ra các loại trường chuyên lớp chọn nay không thấy nói gì đến hiện trạng giáo dục cả, mà đó mới chính là nguyên nhân. Nếu bỏ trường chuyên lớp chọn, đưa hẳn nền giáo dục về trạng thái hỗn độn rắc rối thì những giải pháp cho tình trạng này sẽ bao trùm luôn các giải pháp của Âu Mỹ Nhật, thách thức luôn các trường Dân Lập và Chất Lượng Cao...Mỗi năm chúng ta sẽ có ít nhất 20.000 tài năng trong tất cả các lĩnh vực.

Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

PHẢN BIỆN GIÁO DỤC

Tớ bận đi làm nên không có thời gian làm "luận án Tiến Sĩ". Nhưng thế hóa hay ! Tớ nghĩ ra những mô hình để diễn đạt ngắn gọn hơn. Đây là một mô hình về 2 lối tư duy: toán học và văn học. Ở đây tôi không có ý phân biệt hơn thua giữa 2 lối tư duy, chỉ để bạn có thể hình dung những nét khác biệt để cùng phát huy.

Tôi cũng có khả năng về toán. Thi chuyển cấp từ 9 lên 10 (3 môn), môn toán tôi được 10. Cấp 3 thì học hơi tệ. À còn trước đó nữa, những năm lớp 6,7 tôi rất mê khối Rubic. Nghĩ ra được cách giải riêng. Giải tốc độ nhanh nhất lúc đó là 47 giây (trung bình 3 lần vặn). Bây giờ vẫn còn nhớ phương pháp và vẫn có thể vặn dưới 1 phút. Với mô hình trên thì việc triển khai phân tích hay bình luận hay phê bình một tác phẩm văn học là quá trình giải mã ở 3 mức:

- Mức mục-tượng: là mức logic thực chứng nhất, sát với kinh nghiệm đời sống.
- Mức hình-tượng: là góc nhìn nghệ thuật của tác giả.
- Mức biểu-tượng: là khẳng định các giá trị của tác phẩm.
- Xuyên suốt tác phẩm chính là ý thức hệ, nó chi phối toàn bộ tác phẩm. Ý thức hệ là những biểu hiện tinh tế nhất của tác phẩm.

Tất thảy các mức phân tích này nằm trong ngữ cảnh của từng chương và của toàn bộ tác phẩm. Hai mức đầu thường là phân tích theo ngữ cảnh chiều ngang (chiều của cú pháp hay ngữ đoạn), hai mức phân tích sau theo chiều dọc (hệ biến hóa - thường là ngoài tác phẩm).

Toán học phát triển từ mức biểu tượng bề mặt, văn học phát triển từ mức sâu hơn, nhiều tầng hơn nên phân tích tác phẩm văn học là đào sâu những mức đã được mã hóa như trên.
==============

Tham khảo bài viết của Katina Walton, từ Alabama, Mỹ.


Phan Biên dịch.

ĂN HỌC SỐ LÀ GÌ ?

Để được đánh giá là một người có học thức trong xã hội ngày nay, người học phải có kĩ năng văn học số về đọc hiểu và kĩ thuật. Mạng Internet và những hình thức thông tin khác cùng công nghệ truyền thông (ICTs) đang tái cấu trúc việc dọc, viết và cách chúng ta truyền đạt. Ngày nay loại ICTs thông dụng nhất là tìm kiếm các phương tiện, trang web, e-mail, thông điệp tức thì (IM), blog, hệ thống phân phối nội dung (podcast), sách điện tử, wiki, youtube, IPod’s I Pads, và các phần mềm giáo dục. Chúng được sử dụng hàng ngày để bổ sung việc dạy đọc cho học sinh. Khi công nghệ thay đổi từng ngày, những giáo viên dạy đọc, những giáo viên đứng lớp, và những nhà giáo văn học buộc phải có trách nhiệm trong việc tích hợp thành công những công nghệ này vào chương trình giảng dạy của họ nhằm chuẩn bị cho học sinh trở thành những nhà cạnh tranh toàn cầu. Hệ thống trường học của thành phố Huntsville (Alabama, Mỹ) đã trở thành khu vực trường học dẫn đầu trong việc số hóa toàn bộ giáo trình giảng dạy. Cùng với việc hợp tác với Pearson Education (một công ty chuyên về dịch vụ giáo dục - nd), họ đã chuyển tất thảy sách giáo khoa và phụ lục lên mạng. Điều này sẽ đảm bảo rằng mỗi học sinh đều được chuẩn bị để thành công ở đại học và trở thành lực lượng lao động. Có ít nhất bốn yếu tố cung cấp gần như mọi viễn cảnh hiện hành đang được sử dụng nhằm cung cấp những chiều kích nghiên cứu rộng hơn về văn học số (coiro, 2008):

(1) Internet và những ICTs khác cần những thực hành xã hội mới, kĩ năng. chiến lược, và cách sắp đạt sao cho sử dụng hiệu quả;

(2) văn học số là trung tâm của những hoạt động công dân đầy đủ, hoạt động kinh tế và hoạt động cá nhân trong một cộng đồng toàn cầu;

(3) văn học số nhanh chóng thay đổi như sự thay đổi của các công nghệ xác định; và

(4) văn học số là đa thành phần, đa phương thức và đa khía cạnh; vì thế, chúng sử dụng các đa thấu kính nhằm tìm hiểu cách làm thế nào để chu cấp tốt hơn cho học sinh trong thời đại số.

Mạng Internet đang hết sức phát triển và đang trở thành một phần của mỗi tài liệu trong lớp học ở những quốc gia phát triển trên thế giới. Internet đã chứng minh là công cụ giá trị nhất trong nhiều lớp học. Cho dù việc làm cho các lớp học có khả năng truy cập không đảm bảo việc hoàn vốn tối đa thì chính khả năng truy cập đó cũng là một thành công. Công việc trong tương lai xa được gắn kết với phát triển chuyên nghiệp cùng sự thích đáng cá nhân, sự hấp dẫn của hoạt động, và nhận thức về quá trình phát triển nhờ công nghệ tích hợp của giáo viên trong lớp học của họ (Garry, 2012). Để có được thành công, những giáo viên được huấn luyện tốt được tiến cử trong nhiều chương trình văn học. Ý tưởng văn học thời đại biểu đạt một tập hợp kĩ năng thiết yếu bao gồm việc lấy số liệu, cách trình bày, và truyền đạt thông tin hiệu quả. Trong những nổ lực của các nhà giáo dục nhằm hiện đại hóa lớp học và cập nhật chương trình giảng dạy, các giáo viên đã tập trung một cách logic vào công nghệ và công nghệ tích hợp nhằm sáng tạo các cơ hội cho học sinh, để họ có được những kĩ năng kĩ thuật quan trọng. Khi tận dụng văn học truyền thống, học sinh chỉ được dạy tin vào những thông tin được cho.Với văn học số, học sinh phải chứng minh thông tin được cho. Học sinh bây giờ phải tìm bằng chứng trong phạm vi thư viện số toàn cầu rộng lớn thích ứng với những gì họ đang nghiên cứu, đánh giá thông tin nhằm quyết định giá trị của nó, sau đó tổ chức thông tin đó thành những file số hoặc những thư viện điện tử cá nhân khác. Văn học số đang tiến bộ và thay đổi nhanh chóng từng ngày. Những tiến bộ ở cách người giáo viên sử dụng công nghệ trong lớp học đang phát triển ở nhịp độ nhanh. Nhằm đảm bảo học sinh có thể cạnh tranh ở mức toàn cầu, giáo viên phải được huấn luyện trong thế giới luôn thay đổi của văn học số. Việc đọc đã dịch chuyển từ khái niệm một lớp học và một giáo viên. Ngày nay thế giới là con hàu của giáo dục* và người đọc đã truy cập vào tri thức đọc toàn cầu - Katina Walton.

* Nguyên văn:

Today the world is education’s oyster: Từ câu "the world is one's oyster", đại khái là nhiều cơ hội mở ra cho mọi người và họ phải biết cách nắm bắt chúng - nd.

============

==============
Trên một trang mạng về Giáo Dục có bài phỏng vấn GS TS Đinh Quang Báo, ủy viên hội đồng quốc gia giáo dục. Vị giáo sư này tái khẳng định chương trình giáo dục 12 năm và có đề cập đến tích hợp và đơn vị kiến thức. Tuy nhiên, ông cũng đề cập đến giáo dục phân hóa(một hình thức phân ban hay chuyên chọn) như một "công cụ đảm bảo chất lượng" ở phổ thông trung học. Một số cụm từ mà tôi chú ý như định hướng cốt lõi, môn học cốt lõi, phân hóa sâu. Đáng chú ý nhất là đoạn cuối, tôi xin trích lại sau đây:

"Để dễ hình dung về mục tiêu giáo dục, tôi ví dụ thế này: Chúng tôi dạy sử, dạy địa cho học sinh không phải để dạy các em thành một nhà địa lý học hay một nhà sử học mà là dạy các em năng lực sử dụng kiến thức địa lý, kiến thức lịch sử trong cuộc sống. Đây là hai hướng tiếp cận khác nhau. Nếu tôi dạy cho anh thành nhà chuyên môn thì tôi phải cho anh tiếp cận kiến thức theo chuyên ngành hẹp. Hướng tiếp cận này không chỉ không giúp ích cho đại đa số người học mà còn làm cho môn học trở nên khô cứng, khó học, kém hấp dẫn. Nội dung chương trình môn sử hiện nay là một ví dụ tiêu biểu cho cách tiếp cận này. Học sinh học mà không biết dùng kiến thức đó để làm gì, không thấy giá trị gì cả. Nếu cho các em tiếp cận khai thác giá trị của nó trong đời sống thì các em sẽ thích học, sẽ khao khát khám phá, tìm hiểu"..

Như tôi đã nhận xét, giáo dục đến thời điểm này vẫn bị áp đặt những định hướng, là những phân ban chuyên chọn. Học sinh học các lớp chuyên được định hướng để "chuyên" về một môn học nhất định, là lối giáo dục theo kiểu ăn cây nào rào cây nấy hay giáo dục theo kiều mì chính bột ngọt. Do đó tôi đã nghĩ ra khái niệm đơn vị tích hợp tri thức(không biết trước đó có ai đề cập đến khái niệm này không, nhưng hôm nay thấy một vị giáo sư cũng đề cập tương tự, tôi cũng thấy vui). Nếu đã gọi là tích hợp tri thức thì khó mà định hướng được, ngược lại, khi định hướng thì chỉ có thể chuyên hóa mà thôi. Chẳng hạn như bạn được (gia đình, nhà trường) định hướng toán học thì bạn phải học lớp chuyên toán để sau này trở thành nhà toán học, song không thể gọi bạn là "đơn vị tích hợp tri thức" được. Giáo dục theo lối tích hợp tri thứcthì mỗi cá thể sẽ tự hình thành một xu hướng nào đó, dù bạn có hoạt động trong lĩnh vực khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội thì giá trị của bạn cũng không mấy khác biệt, nghĩa là bạn có thể sử dụng hoặc chịu ảnh hưởng của tri thức tích hợpcủa toàn bộ xã hội. Tương lai, một cách bình đẳng, của mỗi công dân là hòa nhập xã hội chứ khổng thể được định hướngtheo các Viện Nghiên Cứu hay văn bằng, mặc dù ở góc độ cá nhân, mỗi học sinh đều có quyền ấp ủ những ý định riêng của họ. Thứ nữa, nếu đã nói đến tích hợp tri thức thì đừng nên đề cập đến việc phải sử dụng tri thức để làm gì. Đến đây thì tôi có thể phát biểu thành một định luật được rồi:

- Tri thức không có mấy khác biệt và bất khả dụng. Tri thức chỉ khác biệt và khả dụng ở khả năng tích hợp của mỗi cá thể sử dụng nó.

Vấn đề nữa là nền giáo dục hiện nay quá lạm dụng thuật ngữ, nào là giáo dục công dân, nào là khoa học rồi lại công nghệ và kĩ thuật nữa, rồi thì là tìm hiểu xã hội, sau đó thì là khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Có một vị còn đề tựa sách giáo khoa cấp 1 là lối sống nữa chứ....(!?). Tất thảy những khái niệm này nên tập trung vào một môn học hiện đại của các nước phát triển: Văn Học Số.

Đây là một mô hình mà tôi tích hợp được:

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

HỌC THUYẾT GIÁO DỤC.

Tôi đã đào xới và góp nhặt được một số khái niệm mà tôi cho là quan trọng, nào là:

- Định hướng (orient)
- Xu hướng (tendency)
- Đơn vị tích hợp tri thức (cái này do tôi nghĩ ra nên khỏi phải tây hóa_).
- Đa xu hướng: khái niệm này dẫn đến định nghĩa phát triển mới: Phát triển là thống nhất ngẫu nhiên trong một xã hội đa xu hướng..
- Giải phóng (liberty) hay Tự do: là vươn tới biểu tượng. Liberty hơi khác với "freedom", sự xuề xòa, suồng sả của người Việt cũng là một thuộc tính của tự do.
- Tri thức phát triển vào bên trong.
- Công nghiệp luôn đồng hành cùng thương mại: mấy năm trước người ta đặt mục tiêu đến năm 2020 Việt nam là nước công nghiệp hóa mà so với tình hình kinh tế, thương mại hiện giờ có vẻ khập khểnh. Có thể xem đây là một nguyên tắc về phát triển. Dĩ nhiên đây là qui luật của...tui. Chí ít nhà nước và chính phủ Việt Nam phải thường xuyên cân nhắc nguyên tắc này.

Bấy nhiêu đây cũng có thể xào nấu thành một...học thuyết. Hoàn toàn nghiêm túc. Chúng ta cần một nền kinh tế tri thức. Một cái tên rất kêu. Nhưng thế nào là nền kinh tế tri thức? Khoảng 24.000 vị tiến sĩ mỗi vị một chuyên môn và giữa họ chẳng có điểm chung nào cả. Tập hợp này giống như một đầu máy cổ lỗ xộc xệch. Bộ máy vận hành được là nhờ những răng cưa. Đấy là điểm chung nhất của chúng: chúng ăn khớp nhau. Sự vận hành của một bộ máy cũng loại trừ tính định-hướng của các cơ phận, chúng luôn vận hành theo chu kì. Khi chiếc bánh răng cưa này quay theo chiều kim đồng hồ thì chiếc bánh răng cưa ăn khớp với nó phải quay ngược chiều kim đồng hồ, và ngược lại. Một cách tương tự, có thể nói chúng ta không thể định hướng bộ máy nhà nước được. Như tôi đã kết luận: mọi hình thức định hướng của chính phủ đều kéo theo việc loại trừ và tâm lí ỷ lại.

Như thế cái gọi là "đơn vị tích hợp tri thức" phải có điểm gì chung, như những chiếc bánh răng cưa vậy, chúng chỉ khác nay về độ lớn nhỏ cùng số lượng răng cưa khác nhau. Điều này buộc tôi phải trở ngược lại với giáo dục mà quan trọng nhất là 3 năm trung họ. Nền giáo dục phải cấm phân ban và chuyên chọn, buộc mọi học sinh từ khá giỏi đến trung bình kém đều phải học chung trong một lớp học, để họ học tập lẫn nhau, bổ sung cho nhau như một xã hội thu nhỏ. Và học sinh nào xuất sắc đều có thể học vượt lớp, nghĩa là sẽ có một số học sinh sẽ vào ĐH ở tuổi 15. Đấy cũng chính là cơ sở cho cái gọi là "đơn vị tích hợp tri thức".

Tôi không phải chuyên gia kinh tế. Có lẽ phải có một thời gian tìm hiểu để viết tiếp...Bạn nào giỏi kinh tế và thống nhất với tôi luận điểm này xin mời bạn triển khai tiếp....

===============================

Đào xới Triết học, nhất là Giải Cấu Trúc giúp tôi tìm được những khái niệm then chốt. Trong những lớp trầm tích của nền giáo dục, tôi tìm được hình ảnh Cá Chép Vượt Vũ Môn Hóa Rồng. Trong hình ảnh này, tôi thấy có chữ Vượt tương ứng với chữ Việt và cũng là bản tính hay vượt của người Việt. Tôi có đề cập là nền Giáo Dục hãy cho phép những học sinh xuất sắc, có năng lực học tập được học vượt lớp, miễn là họ vượt qua được các kì thi học kì của các lớp. Tôi cũng cho rằng cần giữ các kì thi học kì và cuối cấp. Các kì thi là nét văn hóa truyền thống đẹp của Việt Nam. Khi xưa ta đã ví sĩ tử đi thi như những chú Cá Chép vượt vũ môn đó sao. Việc cho phép học vượt sẽ là một sự sàng lọc tự nhiên và công bằng hơn, nó còn giúp tiết kiệm tiền bạc và thời gian cho những học sinh có tài năng, có năng lực học tập thực thụ. Đổi lại nền Giáo Dục phải hủy bỏ chuyên ban hay trường chuyên lớp chọn (có thể chuyển sang tư thục). Việc các học sinh từ khá giỏi đến trung bình kém học chung cũng giúp cân bằng kiến thức (không để xảy ra hiện tượng như xé đề cương môn sử vừa rồi). Theo cô Hoàng Xuân Sính thì khác với Mỹ, ở Pháp khi vào ĐH là đi hẳn vào chuyên môn mà không qua đại cương. Ở Việt Nam thì sinh viên ĐH còn phải học đến 2 năm đại cương rồi mới đến chuyên môn. Như thế lại càng kéo dài hơn nữa, vì một số lớn sinh viên đã học đến 3 năm phổ thông chuyên ban (lệch lạc) rồi. Nếu bỏ chuyên ban và cho phép học vượt, sẽ có những học sinh vào ĐH ở độ tuổi 15, năm 20 tuổi có thể tốt nghiệp ĐH và học lên nữa. Như thế rõ ràng là kinh tế hơn so với phân ban. Tri thức về văn hóa xã hội, về cư xử cũng chững chạc hơn. Một ưu điểm nữa là số tiền dành cho trường chuyên sẽ được sử dụng để xây dựng hoặc nâng cấp các trường ĐH.


============================

Tham khảo ý kiến của J.J Rouseau, triết gia Pháp 3 thế kỉ trước, người mở đường cho chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tự do:


Tôi đã trình bày thí nghiệm tưởng tượng về lớp học toàn những người học giỏi và lớp học toàn những người học dốt. Xã hội ngày nay cho phép có những trường chuyên ban toàn những người học giỏi mà không cho phép có những trường dành cho những người học dốt ở giữa hoang đảo (như Mai An Tiêm bị đày ra hoang đảo thời các vua Hùng - điển tích này chứng tỏ người Việt đã di dân ra các đảo từ rất xưa). Đề nghị của tôi là dung hòa 2 loại lớp học này, nghĩa là chúng ta không phân ban nữa, cứ để học sinh dốt giỏi học chung cho đến kì thi tốt nghiệp PT. Tôi tạm trình bày bằng phác họa sau:

Ý niệm "cá chép vượt Vũ môn hóa Rồng" được hình thành như một câu chuyện thần thoại. Nó là sự tổng hợp của ý niệm rất xa xưa là điển tích Mai An Tiêm, của các kì thi của Nho giáo. Nó dung hòa giữa 2 thái cực trên. Nền giáo dục ngày nay hẳn nghiêng về Nho giáo. Vậy thì ta cũng nên dung hòa nó với điển tích Mai An Tiêm.

================

Ở trên tôi đã rút ra được một qui luật là mọi hình thức định hướng của Nền Giáo Dục đều kéo theo việc đào thải và tâm lí ỷ lại (và tôi thấy rằng qui luật này cũng đúng đối với kinh tế - xã hội). Thay vào đó là xu hướng hay thiên hướng của mỗi cá nhân học sinh. Thế thì điều gì chi phối xu hướng của một học sinh ? Đó là các mối quan hệ với phụ huynh, ban bè, giáo viên và kiến thức của chính học sinh. Chính các mối quan hệ giúp định hình một xu hướng, tuy còn mơ hồ, song nó là một điểm nhấn giúp định hình một tính cách. Tôi chưa thấy ai định nghĩa thế nào là một lớp học cả. Vì con người ta cần học tập để thích nghi với xã hội, thế cho nên tôi định nghĩa lớp học đơn giản là một xã hội thu nhỏ. Một lớp học lí tưởng là một lớp học đa thành phần. Khi bạn đã định hình một tính cách, bạn sẽ cóp nhặt tri thức để xây dựng tính cách đó. Xu hướng luôn là một khoảng rộng hơn định hướng. Xu hướng còn là sự chủ động, là cá tính. Tính cách hay cá tính quyết địnhgiá trị của một học sinh trong lớp học hay trường học. Bên cạnh giá trị tự thân như thể chất và vật chất thì nhiệm vụ quan trọng nhất của Giáo Dục là giúp học sinh định hình giá trị xã hội, mà cơ sở của nó là quan hệ bạn bè trong lớp học (dĩ nhiên đây là lớp học nhà nước). Trong suốt quá trình học tập, xu hướng của học sinh luôn được củng cố và luôn bao quát. Xu hướng là khoảng trời bất khả xâm phạm của mỗi cá nhân học sinh. Tri thức chỉ giúp mở rộng hơn xu hướng và công việc (dù không đúng với nguyện vọng, sở thích) cũng không thể ảnh hưởng đến xu hướng của một con người. Như thế xu hướng rất gần với chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa tự do. Hãy suy ngẫm một triết lí của Rouseau về giáo dục:

Dạy dỗ trẻ nhỏ là một nghề nghiệp mà chúng ta phải biết cách lãng phí thời gian để tiết kiệm nó.

(The training of children is a profession, where we must know how to waste time in order to save it)
Jean Jacques Rousseau

Nếu thời gian ngồi trên ghế nhà trường là hữu ích thì nó sẽ giúp định hình một xu hướng. Khi mỗi chúng ta đều có xu hướng thì chúng ta mới biết tận dụng thời gian để mở rộng và phát triển xu hướng đó. Bạn lưu ý ở đây lời của Rouseau là "hãy lãng phí, hãy phung phí thời gian", tức hãy hào phóng về thời gian cho giáo dục. Dĩ nhiên giáo dục phổ thông cũng phải có giới hạn, song học tập thì không bào giờ muộn cả. Khi bạn thấy rằng bạn đã lãng phí thời gian thì bạn cũng sẽ biết cách tiết kiệm, và qui trọng nó, cho cả những thế hệ sau.

Như thế nếu mỗi học sinh đều có một xu hướng, một tính cách nhất định thì tri thức hay môn học không còn là vấn đề hàng đầu. Với cái nhìn bao quát thì tri thức của các môn học đều như nhau, chỉ là những mảnh vụn hết sức rời rạc mà công việc của bạn chỉ là gán ghép theo một trật tự, một logic nhất định nào đó thôi. Việc chủ động định hướng đối với mỗi môn học cũng là một điều nguy hiểm như việc định hướng của nền giáo dục vậy. Nên nhớ rằng vi tích phân có ảnh hưởng rất lớn đến khoa học. Đó đơn giản chỉ là việc chia nhỏ đến mức có thể, đến hàng đơn vị một vấn đề, và, theo tôi, tri thức mọi môn học cũng nên được chia nhỏ đến hàng đơn vị, nhỏ đến mức mà tri thức của môn toán, tri thức của môn văn, sử, địa đều không mấy khác biệt. Nó chỉ khác biệt ở việc lắp ghép, tổng hợp của bạn. Thế thì năng lực học tập của bạn là gì ? Chính là khả năng chia nhỏ và tổng hợp, tức khả năng phân tích và trình bày, biểu đạt.

Thay vì nói về người trí thức, trong giáo dục chúng ta nên nói về những "đơn vị tích hợp tri thức".


============================

Tôi minh họa ý tưởng về giá trị xã hội. Theo tôi đây mới là trách nhiệm quan trọng nhất của Nền Giáo dục Việt nam:


Hiểu theo giản đồ này là: các trường chuyên hay lớp phân ban đã không chú ý đến "quan hệ xã hội" và đặt tri thức lên hàng đầu. Hình thức "định hướng" của nền giáo dục hiện nay là như thế. Tôi bổ sung thêm một chiều kích nữa, đó là "quan hệ xã hội". Hai chiều kích "tri thức" và "quan hệ xã hội" giúp hình thành "xu hướng" của mỗi cá nhân học sinh. Chiều kích tri thức không thể thẳng đứng, vì ai, học cao đến đâu, cũng đều hướng đến xã hội, phục vụ lợi ích xã hội. Đấy là giá trị xã hội của họ.

Nếu lớp học của chúng ta đề cao giá trị xã hội thì nó phải đa thành phần, người giỏi toán, người giỏi văn, người thích sử, địa... Cũng có người chẳng giỏi gì cả, có thể cậu ta hay cô ta đang mê luyện đàn, cũng có thể họ thích thể thao, hoặc chỉ đơn giản là an phận thủ thừa. Tất thảy đều có quyền học trong cùng một lớp học.

Điển tích cá chép vượt Vũ Môn nói rằng, nếu cửa Vũ Môn quá thấp thì mọi con cá chép đều vượt qua được và đều hóa rồng. Nhưng tất thảy đều hóa rồng thì chúng chẳng thấy được giá trị của chúng (đây là trường hợp của trường chuyên hay phân ban). Chúng lại đề nghị Long Vương nâng cao Vũ Môn lên một mức. Thế nên chỉ có một số cá chép qua được Vũ Môn thành Rồng. Lưu ý bạn là tất thảy chúng ta đều bình đẳng từ cấp 1 cho đến cấp 3, và ai cũng đều có quyền thử sức mình qua Vũ Môn. Cơ hội này được kéo dài liên tục từ cấp 1 đến cuối lớp 12 cho tất thảy học sinh. Còn về phần những con cá chép không qua được Vũ Môn thì cũng chẳng phải là hết mọi cơ hội. Thất bại cũng là một trải nghiệm hữu ích. Đây lời khuyên của Bill Gates:


Microsofl: vừa nhỏ lại vừa mềm, như những con cá chép giữa ghềnh thác. Xã hội không thể phát triển chỉ với toàn những kẻ thành công. Hãy tạo nhiều cơ hội và hãy chia đều các cơ hội.

Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013

Lượm lặt từ điển Anh - Việt.

Tôi nhận thấy một số học giả và dịch giả hoặc là hời hợt hoặc là quá lạm dụng các từ Hán-Việt nên những tác phẩm của họ quá hàn lâm, thậm chí các từ điển Anh-Việt vẫn chưa lí giải thỏa đáng. Dường như họ đã quên mất chức năng cập nhật, bổ sung những từ tiếng Anh mới. Topic này cũng nhằm lượm lặt, bổ sung và hiệu chỉnh những từ tiếng Anh mà qua quá trình dịch thuật nhỏ nhoi tôi tích góp được, và cả những từ mang tính...thời sự.

Hieroglyph

Từ điển Anh-Việt Lạc Việt:

"bức vẽ hoặc hình tượng trưng của một đồ vật biểu hiện một từ, vần hoặc âm như chữ viết của người Ai Cập hoặc chữ viết khác, chữ viết tượng hình"

"biểu tượng viết dưới một ý nghĩa bí mật hoặc giấu kín, mật mã".


Còn đây là từ nguyên học của wiki:

"Chữ tượng hình Ai Cập (đánh vần tiếng Anh: ˈhaɪərəʊɡlɪf; từ Hy Lạp ἱερογλύφος "chạm linh thiêng", cũng viết là hieroglyphic = τὰ ἱερογλυφικά [γράμματα]) là một hệ thống chữ viết chính thức được người Ai Cập cổ đại sử dụng có chứa một sự phối hợp giữa các yếu tố dấu tốc ký và mẫu tự. Người Ai Cập đã sử dụng chữ tượng hình để ghi các văn bản tôn giáo trên giấy cói và gỗ. Các biến thể ít chính thức hơn của ký tự này, được gọi là thầy tu và bình dân, về kỹ thuật không phải là chữ tượng hình"

Rõ ràng diễn giải dài dòng của tự điển Lạc Việt không chính xác bằng wiki. Sao không chọn một từ Hán-Việt chính xác và gọn hơn, "linh tự" chẳng hạn. Còn muốn biết "linh tự" là thế nào hãy tự tìm hiểu.


Linh tự Ai Cập.


Jean-François Champollion người đã giải mã Linh tự Ai Cập.

===============

Một từ mang tính thời sự - sự vô cảm

Impersonal

Từ điển Lạc Việt giải thích thỏa đáng. Vấn đề là chúng ta hiểu nó ở 2 góc độ ngôn ngữ, tiếng Anh và tiếng Việt. Nội hàm, cấu trúc nghĩa của 2 từ "impersonal" và "vô cảm" là hoàn toàn khác nhau.

An impersonal remark: một lời nhận xét bâng quơ.
A vast impersonal organization: một tổ chức rộng lớn lạnh lùng vô cảm.
A cold impersonal stare: một cái nhìn lạnh lùng không có tình người.
Impersonal pronoun: đại từ không ngôi.


Và :

Impersonator: 

Người đóng vai, người thủ vai.
Người làm trò nhại ai.
Người mạo nhận danh nghĩa người khác.


Có thể gọi "Impersonator" là "người vô cảm" không ?

====================



SOCIOLECT.

Đây là định nghĩa trực tuyến:

In sociolinguistics, a sociolect or social dialect is a variety of language (a dialect) associated with a social group such as a socioeconomic class, an ethnic group, an age group, etc.

Sociolects involve both passive acquisition of particular communicative practices through association with a local community, as well as active learning and choice among speech or writing forms to demonstrate identification with particular groups.

The concept of sociolect originally related to the distinctive linguistic forms that arise in oral communities. However, interaction in written and other media can also lead to sociolects, and many can be found in online communities.

Tạm dịch:

Trong ngôn ngữ xã hội học, “socialect” hay “social dialect” là sự đa dạng về ngôn ngữ (hay phương ngữ) kết hợp với một nhóm xã hội là một tầng lớp kinh tế xã hội, một nhóm dân tộc, nhóm tuổi, vv.

“Sociolect” gồm những thu nhận bị động trong thực tế giao tiếp đặc biệt, qua việc kết hợp với công đồng địa phương, cũng như học hỏi và chọn lựa chủ động giữa các hình thức nói và viết để biểu thị sự gắn bó với các nhóm riêng biệt trên.

Khái niệm “sociolect” có nguồn gốc liên quan đến các hình thức ngôn ngữ học đặc biệt xuất hiện trong các cộng đồng nói. Tuy nhiên, sự tương tác về viết và những trung gian khác cũng dẫn đến "sociolect", và có rất nhiều trong các cộng đồng trực tuyến.


Ý kiến riêng: 

Như thế có thể gọi “sociolect” là "phương ngữ xã hội", hay ngắn gọn: HỘI NGỮ.

Ví dụ: từ Sài Gòn có thể gọi là một "hội ngữ", vì nó là sự kết hợp giữa phương ngữ và dân tứ xứ. Các hội ngữ qua thời gian đều trở thành những phương ngữ.

Một số hội ngữ khác:

- Bự-chà-bá: Việt + Khơ-me
- Xì-trum: từ tiếng Pháp “Les Schtroumpfs”.

==================

Như đã nêu, từ personal và impersonal khiến tối chú ý vì có liên quan chút ít đến thời sự.

Tôi thống kê một số nghĩa của "personal":

- Cá nhân, riêng tư, đích thân, trực tiếp. Đặc biệt "personal pronoun" là "đại từ nhân xưng". Ai cũng biết rằng đại từ nhân xưng tiếng Việt hết sức phong phú.

Personality:: Nhân cách, tính cách.

Đặc biệt:

Personalities: những chỉ trích cá nhân.
Personality cult: tệ sùng bái cá nhân.
Personalism: thuyết nhân cách.

Ta có thể hiểu một cách hình ảnh như sau:



Do đó, từ impersonator không hẳn là "người vô cảm", tôi đề nghị một từ ngắn gọn và chính xác hơn:

Impersonator = Kẻ giả cách, người giả cách.

=============

Hyponym

Hypernym

Các từ điển chưa lí giải thỏa đáng 2 từ này. Tìm hiểu một số diễn giải tôi đề nghị:

- Hyponym: nghĩa hẹp, tương đương với loại (genus)

- Hypernym: nghĩa rộng, tương đương với loài (species)


Các từ như "denotation" và "connotation" tự điển Lạc Việt cũng diễn giải chung chung là "nghĩa rộng", song nghĩa rộng này không có mối quan hệ giữa loài (species) và loại (genus) nên tôi đã đề nghị dùng từ "nghĩa thô" và "nghĩa khéo" nhằm phân biệt với hyponym và hypernym.

Denotation: nghĩa thô.

Connotation: nghĩa khéo
.


Ví dụ:

- Người Việt Nam là một loại người châu Á. Điều này có nghĩa là:

- Người Việt Nam là nghĩa hẹp của người châu Á = người châu Á là nghĩa rộng của người Việt Nam.

Hoặc:

- Doanh nghiệp là nghĩa hẹp của thị trường, ngược lại, thị trường là nghĩa rộng của doanh nghiệp. 

...

Clip vui: Obama impersonator.
=====================

Phatic

Chưa thấy từ điển Anh-Việt nào cập nhật. Tham khảo một số nguồn tôi đề nghị dùng từ Việt tương đương:

Đẳng ngữ (hay tính đẳng ngữ)..

Có thể nhiều người Việt hiểu nó tương đương với sáo ngữ (cliché), vì nó không truyền tải thông tin cũng như đặt vấn đề, chỉ để tạo một không khí xã giao (như trong clip trên thì câu "how are you" của ông Obama impersonator có tính chất phatic - đẳng ngữ).

========================
Hai từ nữa cập nhật luôn:

Broadcast: Truyền thông rộng (phát thanh và truyền hình không dây, mang tính đại chúng).
Narrowcast: Truyền thông hẹp (phát thanh truyền hình có dây hoặc mang tính chất riêng tư như đtdđ).


...
======================
Tớ là người có tư duy hình ảnh, ngôn ngữ (hay từ ngữ) đối với tớ cũng giống như những khúc xương khủng long, những mảnh sành vỡ đối với nhà khảo cổ học. Đây là mô hình Dấu Hiệu Học mà tớ ghép nối, tổng hợp được với những khái niệm về ẩn dụ, hoán dụ, nghĩa rộng, nghĩa hẹp, nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa thô, nghĩa khéo...


Mở rộng mô hình này cho mọi đối tượng, tớ chọn khái niệm "doanh nghiệp" chẳng hạn. Tớ cũng đang muốn trở thành một nhà doanh nghiệp, cũng chẳng biết mô tê gì kinh tế với lại thị trường. Cách hiểu theo quan điểm Dấu Hiệu Học của tớ nó thế này:


Tớ ví doanh nghiệp như một mặt đồng hồ, các cây kim chỉ giờ có tính chất mục tượng và người ta cũng ví thời giờ như vàng bạc vậy. Mặt đồng hồ cũng có thể làm mô hình chỉ phương hướng của các hoa tiêu, lái tàu, phi công thế chiến xưa. Bốn hướng như trục tọa độ là bốn cách hiểu cơ bản về cái gọi là doanh nghiệp:

- Nghĩa rộng: là thị trường.
- Nghĩa hẹp: là doanh nhân và nhân viên.
- Nghĩa thô: là xưởng, cơ sở, văn phòng.
- Nghĩa khéo: là sản phẩm, dịch vụ.

Nghĩa hẹp tương đương với loại (genus), tức doanh nghiệp loại gì: lớn, trung, nhỏ...Nghĩa rộng tương đương với loài (species), tức thị trường có thể mở rộng từ phạm vi quốc nội sang Đông Nam Á, châu Á, Phi, Âu, Mỹ.

Các hướng (hiểu) chính là vậy, tương đương với các múi giờ là :6h, 9h, 12h, 3h.

Bốn góc còn lại tương đương:

- Xưởng, cơ sở - doanh nhân, nhân viên: góc quản lí, quản trị.
- Doanh nhân, nhân viên - sản phẩm dịch vụ: góc hoán dụ (nghĩa là một bộ phận nói lên toàn thể).
- Sản phẩm, dịch vụ - thị trường: góc tiếp thị, quảng cáo.
- Thị trường - xưởng, cơ sở: góc ẩn dụ (nghĩa là có liên quan đến môi trường, chế độ làm việc).

Đấy là mặt tĩnh của dấu hiệu "doanh nghiệp". Mặt động là sự vận động của nó, tương ứng với vận động của những chiếc kim đồng hồ. Tuy nhiên ở đây các góc độ sẽ bổ sung cho nhau làm cho doanh nghiệp vận động như một chiếc đĩa xoay tròn vậy. Việc xoay sẽ giữ cho đĩa cân bằng, tức doanh nghiệp ổn định.

Tớ thấy rằng mô hình này có thể dùng để đánh giá một doanh nghiệp
.
===================


Các từ:

Symbol
Icon
Index


đều có họ hàng thân thuộc với nhau, mà có họ hàng thân thuộc thì phải mang cùng một "họ". Các từ điển Anh-Việt đều dùng từ "tượng" cho "symbol" và icon", tôi đề nghị bổ sung "index" thêm "họ tượng" luôn thể.

Index: mục tượng.

Lưu ý: "mục" ở đây là "mục kích", là nhận biết trực tiếp, gần như là một phản xạ mà không qua suy luận. Vài ví dụ:







Cùng một hiện tượng có thể có 3 cách nhận thức khác nhau:


==============

Dystopia

Actant


Dystopia: từ điển Anh-Việt Lạc Việt dịch là "sự lạc chỗ". Hãy tham khảo một định nghĩa trực tuyến:

Dystopia: An imaginary place or state in which the condition of life is extremely bad, as from deprivation, oppression, or terror.

Tạm dịch:

Một nơi hay một tình trạng không thực với điều kiện sống cực kỳ tồi, như túng thiếu, bị đàn áp, hay khủng bố.

Rõ ràng từ imaginary" là "ảo, tưởng tượng" nên không thể gọi là "lạc chỗ" được. Tôi đề nghị dùng từ "lạc thời", tức giả tưởng.

Dystopia: lạc thời

Các từ liên quan là :

Dystopian novel: tiểu thuyết lạc thời.
Dystopian movies: phim ảnh lạc thời

======

Actant thì chưa có từ điển nào cập nhật. Đây là định nghĩa trực tuyến:

In narrative theory, actant is a term from the actantial model of semiotic analysis of narratives

Tạm dịch:

Trong lý thuyết tường thuật, actant là thuật ngữ trong mô hình "actantial" về phân tích dấu hiệu học tường thuật.

Tôi đề nghị:

Actant: vai phần

Vai-phần không phải là một tính cách mà là những yếu tố cấu trúc tích hợp của tường thuật.

...
===================

Articulation
Figurae


Các từ điển đưa ra những từ Việt tương đương thỏa đáng, tôi chỉ trình bày thêm khái niệm này về mặt Dấu Hiệu Học. Trong ngôn ngữ, người ta xem các từ ngữ có 2 mức cấu trúc mật mã và có tính khớp nối

- mức cao là khớp nối sơ cấp (first articulation) còn gọi là mức ngữ pháp với các đơn vị nghĩa là các từ.
- mức thấp là khớp nối thứ cấp (second articulation) còn gọi là mức âm với các đơn vị chức năng tối thiểu.

Có thể hiểu theo sơ đồ sau:


Ở mức khớp nối âm vị, Hjelmslev dùng từ "figurae" để chỉ các "đơn vị chức năng tối thiểu", là âm vị trong nói và tự vị trong viết, chúng là những yếu tố phi tạo nghĩa. Ở đây, ngoài các yếu tố âm vị, tự vị và những kí hiệu rỗng (empty signifer), tôi thêm vào một yếu tố phi tạo nghĩa nữa, tôi xếp những "đơn vị thao tác" trong Thư pháp cũng thuộc loại "figurae" (tôi chưa thấy có từ Việt ngắn hơn nên cứ tạm gọi là "figurae"). Theo đó thí 8 nét cơ bản của Thư pháp Hán và 3 nét cơ bản của Thư pháp Việt đều thuộc loại figurae - những yếu tố phi tạo nghĩa.

Gần đây có một vị GS ở Việt nam cho rằng đạo hàm trong toán học chẳng có ích lợi gì đối với học sinh cả. Nếu hiểu một cách hình ảnh cùng những từ tiếng Anh thì ta sẽ thấy rằng cái gọi là "figurae" của Hjelmslev tương đương với "đạo hàm" hay "vi phân" của toán học. Đây chính là điểm chung của toán học và ngôn ngữ.

- Đạo hàm: derivative. Từ này trong ngôn ngữ học còn có nghĩa "phát sinh, bắt nguồn".
- Hàm :function, còn có nghĩa "chức năng" như "đơn vị chức năng tối thiểu" (figurae) đã nêu trên.
- Vi phân: differential hay thường gọi là "vi biệt", cũng tương đương với "figurae - những đơn vị cấu trúc vi biệt thuần túy".
- Hàm ngôn: discourse, còn có nghĩa bài thuyết trình, diễn thuyết.


Đạo hàm là hệ số góc tiếp tuyến trong toán và vận tốc tức thời trong lí.

Việc phân chia các trường chuyên lớp chọn, chuyên toán chuyên văn...quá sớm của nền giáo dục Việt nam là một sai lầm hết sức tai hại.

==========

Tớ lục được bài phỏng vấn ông Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn lân Dũng tại đây:

http://hocban.com/tt_ct/1091-gs-nguy...-nhu-cuong.htm

Trong đó có đoạn này:
".....
Cần tạo bứt phá rõ rệt chấn hưng giáo dục

Giáo sư kỳ vọng như thế nào về nền giáo dục nước nhà?

Tôi mong Bộ GD&ĐT liên lết với Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam để chỉ cần trong 1 năm có thể hoàn thành Bộ Chương trình Giáo dục phổ thông trước khi đưa ra thảo luận rộng rãi, sau đó có thể thông qua tại một Hội đồng đủ quyền lực cấp Nhà nước. Chỉ tập trung một việc này thôi cũng đủ tạo ra một bứt phá rõ rệt trong sự nghiệp chấn hưng giáo dục.

Tôi nhớ tới lời phát biểu của bạn tôi, thầy Văn Như Cương: "Trừ các nhà Toán học ra còn thì trong xã hội chả có ai dùng đến đạo hàm, tích phân. Vậy bắt học sinh học để làm gì?"

Giáo sư muốn nhắn nhủ gì đến những người làm công tác giáo dục?

Chỉ cần ghi ghi nhớ một lời dạy của Bác Hồ: "Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt".

Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!".


...


Hàm ngôn của Bác và "đạo hàm" tại các vị trí "dù-phải-tốt" cũng là các hệ số góc...

Mai chủ nhật chẳng phải cày cấy mà buổi chiều lại uống đến 2 tách cafe...
==============
Derivative

Cái từ "derivative" này thú vị đây ! Tiếng Anh có một từ là "Tao" mà tôi nghĩ nó có nguồn gốc tiếng Hán. Tôi thì thấy rằng chính khái niệm "derivative" mới gần với khái niệm Đạo của người Việt hơn. Đạo không những là "đường đi" mà còn là "hướng đi". Các câu:

Uống nước nhớ nguồn.
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.

Ta đều thấy khái niệm "derivative" trong đó. Đạo của người Việt cũng rất gần với những khái niệm của Kinh Dịch:

Cùng tất biến, biến tất thông.


Trong mô hình trên thì:

- dx tiến đến không là cùng.
- Khi đó tỉ số sẽ biến thiên về một giá trị nhất định.
- Nếu tỉ số trên tồn tại thì hàm số liên tục tức thông.

Và câu này cũng có bóng dáng của Derivative:

Vạn sự khởi đầu nan.

Kết luận của tôi là độ hoàn thiện của công việc phụ thuộc vào vận động (function) và đạo (derivative) tức mức độ phân chia từ thô thành những thành phần đơn giản hơn có liên quan mật thiết với nhau, như một dây chuyền sản xuất chẳng hạn.

================

Ba từ có liên quan nhau về lĩnh vực điện ảnh, hai trong số đó chưa được cập nhật:

Iconic figure: nhân vật hình tượng.
Seme: siêu hình tượng.
Cinemorph: kiểu mẫu điện ảnh.


=============

Nền giáo dục Việt nam chia các phân ban (hay lớp chuyên) và ai cũng cho rằng có sự khác biệt khá rõ giữa tư duy toán học và văn học. Về mặt mật mã tôi thấy rằng toán học (hay các biểu thức, phương trình toán học) lại có mức mã hóa thấp (hay mức thứ cấp), vì các kí hiệu toán học có thể phân tích thành những "figurae" (những đơn vị chức năng tối thiểu và không có nghĩa), khác với ngôn ngữ gồm 2 mức khớp nối: mức ngữ pháp (mức cao hay sơ cấp) và mức âm vị (thứ cấp). Jacques Derrida cũng có đề cập về một thứ khoa học, gọi là "Ngữ pháp học" (Grammatology). Khoa học này có thể khác với khoa học toán học. Chúng ta thường hay gặp hiện tượng nhà toán học làm thơ và nhà thơ lại thích làm toán, thậm chí có mấy ông giáo sư Toán còn muốn ...vứt luôn cả việc học đạo hàm nữa (!?). Quả là nền giáo dục lệch lạc !


...==============

Advertorial: advertisement + editorial: siêu quảng cáo trên báo.
Infomercial: information + commercial: siêu quảng cáo truyền hình
Edutainment: education + entertainment: vui học.
Docudrama: documentary + drama: kịch hóa sự kiện.
Faction: fact + fiction: hư cấu hóa sự kiện.


Những người làm chuyên môn đều biết các khái niệm này, song chưa chuyển sang từ Việt tương đương. Ngôn ngữ theoqui luật biểu tượng hóa (đây là qui luật do tôi đặt ra). Bạn nhìn thấy chữ "advertorial" cũng như lần đầu tiên bạn nhìn thấy một con voi, và bạn nghe người ta gọi con vật đó là "con voi" thì đó chính là qui luật biểu tượng hóa của ngôn ngữ, nó đi từhình ảnh, khái niệm sang hình tượng, rồi đến biểu tượng ngắn gọn hơn. Các từ mới trên cũng có đôi chút tính chất "hội ngữ", do kết hợp của nhiều tổ chức, nhiều phương tiện truyền thông...

Thanh thiếu niên Nhật dường như rất thích truyện tranh. Các nhân vật như Seme và Uke đều là những "siêu hình tượng". Cái gọi là "siêu hình tượng" và "mẫu điện ảnh" cũng phát triển theo qui luật biểu tượng hóa. Qui luật biểu tượng hóa có thể là qui luật phát triển vào bên trong, nghĩa là người ta kết hợp các hình tượng thành một hình tượng mới rồi đặt tên cho nó. Bạn có thể tham khảo sơ đồ sau:


Qui luật này cũng có thể là qui luật phát triển ra bên ngoài. Ví dụ như tượng Nữ Thần Tự Do.

Thiết nghĩ các nhà làm truyện tranh Việt nam cũng nên tuân theo qui luật này.


=================

Tôi trình bày lại ý tưởng trên như sau:

Theo cách hiểu này thì truyện tranh góp phần phát triển tư duy hình ảnh, vì hình tượng và siêu hình tượng có tác động tâm lí mạnh hơn hình ảnh thực và hình chụp. Nói chung là nghệ thuật, nhất là nghệ thuật thị giác có thể có tác động nhất định đến tư duy và trí tuệ. Mật độ hình tượng cũng có thể giúp phát triển cả về mặt ngôn ngữ. Chúng ta nên đặt lại vấn đề về tư duy trừu tượng toán học, nhất là đại số. Những trường chuyên toán đang phát triển tài năng hay đang hủy hoại tài năng? Tôi trình bày thêm một ví dụ cụ thể hơn:


Tượng Nữ Thần Tự Do ở New York là một siêu hình tượng phát triển từ hình tượng Libertas ban đầu, sau đó bức tượng này đã trở thành biểu tượng nước Mỹ. Libertas là nữ thần được dân nô lệ thờ phụng thời cổ đại La Mã cùng thời với Hai Bà Trưng, song bức tượng ở New York mang phong cách đương đại và hiện đại hơn hình ảnh cổ.


...

Cũng xin nói thêm là Nữ Thần Tự Do (Libertas) là hình tượng cùng những phẩm chất được nhân cách hóa (personified virtues) thời cổ đại La Mã và được người nô lệ tôn thờ. Trái với hình tượng Libertas, Hai Bà Trưng và Bà Triệu là những nhân vật thật trong lịch sử Việt nam. Chúng ta thường nghĩ về các Bà như những nữ tướng dũng mãnh chống giặc phương bắc hơn là hình tượng về giải phóng nói chung, thậm chí có thể tiến đến một siêu hình tượng về tự do như Libertas hay Statue of Liberty. Một nghìn năm bắc thuộc có lẽ là thời kì người Việt chưa biết đến khái niệm giải phóng hay tự do. Chỉ có thể nói rằng đó là do người Hán một mặt tận diệt văn hóa bản địa mang nhiều đặc tính hình tượng và biểu tượng, một mặt hạn chế truyền bá văn hóa Hán như chữ viết...

Tôi cũng đã định nghĩa về tự do - Tự do là vươn tới biểu tượng.

Một số hình ảnh về Libertas:





Một số hình ảnh Hai bà Trưng và Bà Triệu:





Tranh Đông Hồ:


Có thể nói trong trường hợp này (hình tượng - siêu hình tượng - biểu tượng) là sự kết hợp giữa các khái niệm tương đương (chống giặc - giải phóng - tự do).

...
So với tranh Đông Hồ thì hình ảnh Bà Trưng ở sách tiếng Việt lớp 3 quả là hoành tráng, sự hoành tráng này cũng không vượt trên tầm chủ đề, nó chỉ cường điệu hóa những gì ta thấy ở bức tranh Đông Hồ. Một sự thực nữa là tranh Đông Hồ cũng đang lùi dần vào lịch sử. Những con voi lại trở nên to lớn dị thường như voi ma mút, bức tranh như khắc sâu vào tâm trí lũ trẻ như một mệnh đề Đại số:

Bà Trưng = Đánh đuổi quân Nam Hán, chẳng khác nào
3.5 = 15 của bảng cửu chương.

Bức tranh dân gian Đông Hồ vẽ Bà Trưng mộc mạc hơn, tuy ta thấy không thực nhưng rất ấn tượng về mặt hình tượng.

Ở trên tôi có đề cập về tính chất mục tượng (index) trong dấu hiệu học, hình ảnh Bà Trưng trong các bức tranh xưa cũng như hiện đại đều còn mang tính chất mục tượng. Liệu có sự tương đồng giữa Mục tượng và Đại số không? Lâu nay chúng ta vẫn hiểu "index" là "mục lục" nghĩa là nó bị khoanh vùng trong những việc tra cứu mà thực ra chính chúng ta đang chịu ảnh hưởng quá mạnh của nó, được thể hiện trong nghệ thuật và cả toán học hiện đại. Đây có thể là một minh chứng, rằng chúng ta vẫn chưa có khái niệm đúng đắn về "giải phóng" và trên đó là "tự do". Ý thức hệ phong kiến xưa vẫn "chặn ở hai đầu": được làm vua thua làm giặc là thế. Ý niệm về giải phóng và tự do nằm trong khoảng giữa đa chiều đó: không vua và cũng không giặc...


...
Mấy bữa nay bận quá, hôm nay uống một chai bia mà váng hết cả đầu. Tôi sẽ cố gắng phát triển ý tưởng đã nêu (vẫn chưa có thì giờ để viết sách). Kurt Godel đã chứng minh định lí bất toàn, thế bạn hiểu định lí này như thế nào? Tất thảy các nhà toán học, nhà khoa học đều là những "thầy bói mù xem voi", nghĩa là không ai đúng cả, song sự kết hợp (hay thống nhất) của họ có thể tạo nên một điều đúng tương đối. Tôi đã phát triển ý tưởng này để định nghĩa về phát triển - phát triển là sự thống nhất ngẫu nhiên trong một xã hội đa xu hướng. Nhiều nhà khoa học Việt nam dường như ...cố ý không hiểu định lí bất toàn, họ vẫn có tham vọng "vẽ voi" với các Viện nghiên cứu này nọ. Thế tôi hiểu định lí bất toàn như thế nào? Tôi hiểu thế này, chẳng hạn:

3 + 5 = ?

Ai cũng biết rằng sau dấu "=" là "8", nhưng với định lí bất toàn thì sau dấu "=" chỉ là một dấu hỏi. Câu trả lời phụ thuộc vào văn cảnh, nghĩa là người trả lời là người Miến Điện hay Việt nam chẳng hạn. Với người Miến thì có thể bạn sẽ trả tiền thấp hơn chút so với người Việt. Chúng ta khi ngồi trên ghế nhà trường vẫn làm toán đại số ào ào, thậm chí nhiều trường chỉ chuyên dạy học sinh làm toán, đến nỗi có ông giáo sư toán bỗng gãi đầu tự hỏi - chúng ta làm toán để làm gì nhỉ? Và "chỉ có nhà toán học sử dụng đạo hàm. Vậy cần gì phải dạy học sinh"(!?). Không biết họ "chấn hưng giáo dục" bằng cách nào? Chỉ bằng cách nghe lời Bác thôi sao(!?).

Học toán và đại số vẫn cần thiết, song chúng ta học toán không phải để tìm đáp số, chúng ta nên làm toán để đặt vấn đề, nghĩa là câu trả lời trong văn cảnh nào là có lợi nhất. Đấy cũng là nội dung của định lí bất toàn toán học.

Một số siêu hình tượng của một họa sĩ Nhật vễ về Việt nam:











=================

Bricoleur
Bricolage


Đều là từ Pháp.

Bricoleur là một người tháo vát nói chung, thường là tự học hay nghệ sĩ tài tử. Có thể gọi là:

1. Thợ cả
2. Nghệ sĩ ứng tác.



Bricolage có 2 nghĩa chính, tôi tạm dùng 2 từ tiếng Việt:

1. Ứng cụ: tất thảy những gì trong tầm tay được ứng dụng một cách sáng tạo, linh hoạt, khéo léo (công cụ hóa).
2. Ứng tác: tác phẩm được sáng tạo ngẫu hứng bằng những ứng cụ.



Ứng tác của Gary Jackson:




Một số ứng tác:






Bricolage còn mở rộng sang các lĩnh vực: âm nhạc, kiến trúc, triết học, nghiên cứu văn hóa, giáo dục, thông tin, kinh doanh, thời trang.

============
Đến đây thì tôi nhớ đến câu đầu tiên của Đạo Đức Kinh (Lão Tử) - Đạo khả Đạo, phi thường Đạo. Có nhiều cách giải nghĩa câu này. Tôi cũng chưa hiểu hết được, chỉ cảm nhận rằng câu này có liên quan đến những vấn đề đã đề cập trong đây, rằng hẳn người Việt chúng ta chưa hề biết đến cái gọi là "mục tượng", mà nghịch lí thay, chính điều mà chúng ta chưa biết hay đúng hơn là chưa đặt tên này lại đang chi phối nhận thức hàng ngày của chúng ta. Nhìn một cách tổng thể thì xã hội VN là một bức tranh chụp giật bấu vá và ít ai bỏ thì giờ ra chiêm nghiệm bức tranh này, kẻ cả các họa sĩ VN. Đến khi có những họa sĩ nước ngoài như họa sĩ Nhật ở trên vẽ lại xã hội VN thì ta mới nhận thấy góc độ nghệ thuật của nó. Điều này chứng minh rằng "mục tượng" chi phối mọi tầng lớp xã hội VN, từ người bình dân cho đến trí thức, nghệ sĩ. Nó cũng chứng minh rằng người Việt chúng ta chưa tự giải phóng mình về mặt nhận thức và tư duy. Hơn thế nữa, chúng ta đã đi lùi về mặt nghệ thuật so với hàng trăm năm trước khi so sánh tranh Đông Hồ và tranh trong sách GK của học sinh ngày nay (vẽ Bà Trưng, Bà Triệu). Tôi phát hiện ra điều thú vị này vì trong tự điển tiếng Việt không hề...có những khái niệm như thế. Có những mối liên hệ giữa mục-tượng (index) với ứng-tác (bricolage), và những tương đồng về tổng quan xã hội VN với những khái niệm đó. Ngay cả việc quảng cáo, từ các chương trình cho đến nhà chuyên môn cũng phô bày một cách lộ liễu. Các phát ngôn viên còn gọi là "thông tin thương mại" một cách khá chân thực và trìu mến nữa. Rõ ràng đa số chúng ta chưa hề biết đến một mức độ quảng cáo cao hơn, ít trần trụi hơn, thậm chí những phô diễn của quảng cáo hiện đại có thể khiến nhiều người Việt hiểu một cách dung tục về chúng. Phim ảnh, kịch nghệ cũng cùng chung một tư duy như thế. Phim Bụi đời Chợ Lớn chẳng hạn, tuy tôi chưa xem song tôi nghĩ sẽ cần một quá trình trình chiếu và phê phán.

Quay lại với câu nói của Lão Tử thì tôi có thể hiểu: đạo mà ta biết rằng đó là đạo thì đạo này (sẽ) không thường xuyên chi phối ta, hay điều mà ta đã đặt tên cho nó thì điều này (sẽ) không thường xuyên chi phối chúng ta.


===============


Lại có scandal dịch thuật. Nay đến lượt Trần Tiễn Cao Đăng với từ "cooze" trong "The Things They Carried" của Tim O'Brien. Ngay cả tựa đề dịch là "Những Thứ Họ Mang" cũng chưa hay lắm. Tớ thì tớ dịch là "Điều Họ Mang Theo", mang theo những điều cay đắng...So với người lính VN cộng hòa thì Chuột Kiley cô đơn và cay đắng hơn nhiều. Đây, một trong những niềm an ủi nhỏ nhoi:

Chiến tranh đem thân trai đi ngàn phương
Đời chỉ ân ái với cánh thư hồng ấp yêu.
(Lam Phương)
.

Đây là nguyên văn:

As a first rule of thumb, therefore, you can tell a true war story by its absolute and uncompromising allegiance to obscenity and evil. Listen to Rat Kiley. Cooze, he says. He does not say bitch. He certainly does not say woman, or girl, He says cooze. Then he spits and stares..

Đoạn dịch của Cao Đăng:

Vì vậy quy tắc đầu tiên là: bạn chỉ có thể kể một câu chuyện chân thực về chiến tranh bằng cách trung thành tuyệt đối với cái ác và với sự tục tằn. Hãy nghe Chuột Kiley mà xem. Con mặt l**, hắn nói. Hắn không nói con đ* c**. Hắn chắc chắn là không nói bà ấy, hay cô ấy. Hắn nói con mặt l**. ...

Đoạn "trung thành tuyệt đối với cái ác và với sự tục tằn" có vẻ ngây ngô, tối nghĩa, thậm chí là trái ngược hẳn với nguyên văn. Ông Đăng hình như bỏ sót từ "its". Có vấn đề về cái gọi là "trung thành":

- allegiance: lòng trung thành, song còn có nghĩa: bổn phận, hoặc nghĩa vụ.

Và còn bỏ sót cả từ "uncompromising"(bất thỏa hiệp, kiên quyết, không nhượng bộ). Có thể hiểu là:

...nghĩa vụ tuyệt đối và kiên quyết của nó đối với sự cục súc và cái ác.

Không phải người kể phải "trung thành tuyệt đối với cái ác và sự tục tằn" (!?), mà chiến tranh có tính chất tuyệt đối và kiên quyết với sự cục súc và cái ác. Vì hai bên tham chiến bên nào cũng cho rằng đối phương "cục súc" và "ác", không ai có thể thỏa hiệp với những điều như thế. Đấy là cái sai về ngữ pháp của Cao Đăng.

Cái sai chính là từ "cooze". Từ này chịu ảnh hưởng của toàn bộ văn cảnh. Từ này giữ vai trò khá "trung lập" trong văn cảnh, nó nói lên tính chất nông cạn, ngốc nghếch, vờ vịt. Một tính cách hết sức là "vô tình" của một cô gái ở hậu phương nước Mỹ. Không:

Như bông hoa chờ đợi, mưa gió không phai tàn
Ngày về nụ hoa ngát hương
Anh ơi, em lại đón anh về...


Rõ ràng Chuột Kiley không chối từ tình dục, vì hắn không gọi "ả lẳng"(bitch), cũng không thiếu đàn bà con gái. Anh ta cần một điều gì đó cao hơn, đối lập với sự cục súc và cái ác. Anh ta cần sự đồng cảm. Vì thế theo tôi chỉ cần dùng từ "ả ngốc" hoặc "ả mít đặc" là đủ.

...Vì thế kinh nghiệm trước tiên là, bạn có thể kể một câu chuyện thực về chiến tranh bằng nghĩa vụ tuyệt đối và kiên quyết của nó đối với sự cục súc và cái ác. Hãy lắng nghe Chuột Kiley. Con mít đặc, cậu ta nói. Cậu ta không nói ả lẳng. Cậu ta hẳn không nói chị hay em. Cậu ta nói con mít đặc. Rồi cậu ta nhổ toẹt và nhìn chòng chọc...
Cay đắng thay, chính Kiley cũng nhận được "bổn phận tuyệt đối và kiên quyết" của cô mít đặc đối với chính mình...

Chuột Kiley nhổ đây là nhổ vào chính những gì cậu ta đã viết cho cô gái ngốc đó, vì chỉ có ngốc mới viết cho một cô mít đặc...

...==============

Sự cố dịch thuật của Trần Tiễn Cao Đăng khiến tớ phải xem xét lại mô hình của mình. Đây là mô hình trước:


Độc giả thì lúc nào cũng ý thức rằng họ đang đọc truyện dịch. Chính tựa sách đã "bỏ neo" ý thức của độc giả về văn bản. Bản tiếng Việt chỉ có sắc thái khác với bản gốc, giống như ta xem một cuốn phim nước ngoài có lồng tiếng Việt vậy (lồng tiếng chứ không phải thuyết minh hay phụ đề). Do đó mọi nỗ lực "Việt hóa" văn bản sẽ khiến văn bản...chẳng giống ai cả, nó khiến độc giả rối loạn (vì họ đã luôn ý thức rằng họ đang đọc truyện dịch). Nếu như khi xưa Nguyễn Du viết Kiều với đề tựa "phóng tác từ Kim Vân Kiều Truyện" thì ắt hẳn sẽ có những nhận xét phê phán vì độc giả sẽ so sánh với bản gốc. Mô hình trên là mô hình tổng quát. Để dễ hình dung, tôi đưa một mô hình chi tiết hơn:


Như trong câu của Tim O'Brien thì ông Đăng đã sai về ngữ pháp (câu "...bằng cách trung thành tuyệt đối với cái ác và sự tục tằn..."). Cái sai về ngữ pháp đã dẫn đến cái sai về văn cảnh. Ở đây chính ông Đăng (chứ không phải Tim) "phải trung thành tuyệt đối với sự tục tằn" nên mới dẫn đến "sự cố cooze". Hơn nữa, mọi từ điển tiếng Anh đều nói rõ rằng từ "cooze" chỉ là từ lóng, không có nghĩa đen. Cái sai văn cảnh này thuộc về ngữ đoạn, nghĩa là các sự kiện trước đó dồn về theo cách đọc từ trái qua phải. Thế nên ông Đăng cũng biện hộ theo logic ngữ đoạn này. Tuy nhiên, văn bản còn có văn cảnh cú pháp nửa, nó được tạo nên theo chiều dọc văn bản và rộng hơn văn cảnh ngữ đoạn. Chính văn cảnh cú pháp mới nói lên tâm trạng của Kiley, cậu ta muốn một điều gì đó đối lập với sự cục súc và tàn ác của chiến tranh (như một lời biện hộ rằng bản chất cậu ta không hề cục súc và tàn ác).Văn cảnh ngữ đoạn chỉ bó hẹp trong phạm vi văn bản, còn văn cảnh cú pháp mở rộng hơn ra ngoài phạm vi văn bản (như thời kì chiến tranh VN nói chung) và cả thời điểm hiện tại khi cuốn sách được phát hành. Sự kết hợp của hai loại văn cảnh này quyết định việc chọn lựa từ ngữ tiếng Việt thích hợp. Trong văn cảnh câu trên thì nếu cô nàng mít đặc kia hồi âm thì đúng ra Kiley phải nói "bitch" (nếu có cô nàng có vẻ lẳng lơ), và nói "woman" (nếu cô lớn tuổi hơn Kiley - 19 tuổi) và nói "girl" (nếu cô còn đi học). Thế nên ta hoàn toàn có thể chuyển ngữ thành "chị" và "em", thay vì "bà" và "cô"....

============


Các từ "định hướng" và "xu hướng" khiến mình chú ý đây. Thử chuyển sang Anh ngữ xem sao.

ĐỊNH HƯỚNG:

- To orient: quay về hướng Đông.
- To orient oneself: định hướng.

Chữ "orient" chỉ phương Đông hay hướng Đông nói chung. Chữ này cũng liên quan đến chiếc la bàn là phát minh của người TQ. Từ điển trực tuyến định nghĩa như sau:

1. To locate or place in a particular relation to the points of the compass: xác định hoặc đặt (một cái gì đó) tương quan với mũi tên la bàn.

2.
a. To locate or position so as to face the east: định vị hoặc bố trí sao cho quay về hướng đông.
b. To build (a church) with the nave laid out in an east-west direction and the main altar usually at the eastern end: xây (nhà thờ chẳng hạn) với gian giữa trải dài theo hướng đông-tây và bệ thờ chính nằm ở cuối cánh phía đông.

3. To align or position with respect to a point or system of reference: (oriented the telescope toward the moon; oriented her interests toward health care): sắp xếp hoặc bố trí thẳng hàng với một điểm hoặc hệ thống tham chiếu (hướng viễn vọng kính về phía mặt trăng; hướng mối quan tâm của cô ấy đến việc chăm sóc sức khỏe).

4. To determine the bearings of: quyết định ý nghĩa của cái gì đó.

5. To make familiar with or adjusted to facts, principles, or a situation: làm cho quen hoặc thích nghi với sự kiện, nguyên tắc hay tình huống.

6. To focus (the content of a story or film, for example) toward the concerns and interests of a specific group: tập trung (nội dung của một câu truyện, phim) vào doanh nghiệp hoặc lợi ích của một nhóm đặc biệt (Việt nam gọi là "lợi ích nhóm").

Đặc biệt:- To turn toward the east: quay về phía đông.

Vậy ta có thể hiểu "định hướng xhcn" như thế nào ? Có lẽ là - To orient the economy toward socialism.

Có lẽ người phương Tây hiểu cái gọi là "định hướng" rõ hơn chúng ta, qua chính cái từ "orient" của họ.

XU HƯỚNG 

Từ phổ biến là "tend", từ điển Lạc Việt:

To tend a patient: chăm nom người bệnh.
To tend a machine: giữ gìn máy móc.

To tend a store: phục vụ cửa hàng, bán hàng.

To tend upon someone: phục vụ ai.

Women tend to live longer than men: phụ nữ có chiều hướng sống thọ hơn nam giới.
The track tends upwards: con đường hẻm hướng đi lên.
All their efforts tend to the same object: mọi nổ lực của họ đều cùng nhắm đến một mục đích.

Rõ ràng "định hướng" và "xu hướng" là hoàn toàn khác nhau. Định hướng tự nó chỉ có một chiều và có vẻ áp đặt hay giáo điều, còn xu hướng tự nó đã là đa chiều.

Hai khái niệm cũng loại trừ lẫn nhau. Nếu một người được định hướng thì khó mà có xu hướng riêng và ngược lại, một người có xu hướng cũng khó mà định hướng họ được. Xu hướng nói lên tính chất phong phú đa dạng của xã hội. Ngược lại, thực tế các xã hội định hướng thường là độc tài toàn trị. Giải cấu trúc xã hội VN nên tập trung vào hai khái niệm then chốt này, nhất là về Giáo dục và Kinh tế-Xã hội...

Mô hình dịch thuật trước tôi quên thêm vào chiếc...mỏ neo, một khái niệm của Roland Barthes. Mọi truyện dịch đều "bỏ neo ý thức" độc giả bằng tựa đề, tên tác giả, lời giới thiệu. Trong suốt quá trình đọc họ luôn ý thức được điều này, vì thế mọi nỗ lực "Việt hóa" bản dịch đều ít nhiều gây rối độc giả.


...

Hạ Viện.