Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013

Lượm lặt từ điển Anh - Việt.

Tôi nhận thấy một số học giả và dịch giả hoặc là hời hợt hoặc là quá lạm dụng các từ Hán-Việt nên những tác phẩm của họ quá hàn lâm, thậm chí các từ điển Anh-Việt vẫn chưa lí giải thỏa đáng. Dường như họ đã quên mất chức năng cập nhật, bổ sung những từ tiếng Anh mới. Topic này cũng nhằm lượm lặt, bổ sung và hiệu chỉnh những từ tiếng Anh mà qua quá trình dịch thuật nhỏ nhoi tôi tích góp được, và cả những từ mang tính...thời sự.

Hieroglyph

Từ điển Anh-Việt Lạc Việt:

"bức vẽ hoặc hình tượng trưng của một đồ vật biểu hiện một từ, vần hoặc âm như chữ viết của người Ai Cập hoặc chữ viết khác, chữ viết tượng hình"

"biểu tượng viết dưới một ý nghĩa bí mật hoặc giấu kín, mật mã".


Còn đây là từ nguyên học của wiki:

"Chữ tượng hình Ai Cập (đánh vần tiếng Anh: ˈhaɪərəʊɡlɪf; từ Hy Lạp ἱερογλύφος "chạm linh thiêng", cũng viết là hieroglyphic = τὰ ἱερογλυφικά [γράμματα]) là một hệ thống chữ viết chính thức được người Ai Cập cổ đại sử dụng có chứa một sự phối hợp giữa các yếu tố dấu tốc ký và mẫu tự. Người Ai Cập đã sử dụng chữ tượng hình để ghi các văn bản tôn giáo trên giấy cói và gỗ. Các biến thể ít chính thức hơn của ký tự này, được gọi là thầy tu và bình dân, về kỹ thuật không phải là chữ tượng hình"

Rõ ràng diễn giải dài dòng của tự điển Lạc Việt không chính xác bằng wiki. Sao không chọn một từ Hán-Việt chính xác và gọn hơn, "linh tự" chẳng hạn. Còn muốn biết "linh tự" là thế nào hãy tự tìm hiểu.


Linh tự Ai Cập.


Jean-François Champollion người đã giải mã Linh tự Ai Cập.

===============

Một từ mang tính thời sự - sự vô cảm

Impersonal

Từ điển Lạc Việt giải thích thỏa đáng. Vấn đề là chúng ta hiểu nó ở 2 góc độ ngôn ngữ, tiếng Anh và tiếng Việt. Nội hàm, cấu trúc nghĩa của 2 từ "impersonal" và "vô cảm" là hoàn toàn khác nhau.

An impersonal remark: một lời nhận xét bâng quơ.
A vast impersonal organization: một tổ chức rộng lớn lạnh lùng vô cảm.
A cold impersonal stare: một cái nhìn lạnh lùng không có tình người.
Impersonal pronoun: đại từ không ngôi.


Và :

Impersonator: 

Người đóng vai, người thủ vai.
Người làm trò nhại ai.
Người mạo nhận danh nghĩa người khác.


Có thể gọi "Impersonator" là "người vô cảm" không ?

====================



SOCIOLECT.

Đây là định nghĩa trực tuyến:

In sociolinguistics, a sociolect or social dialect is a variety of language (a dialect) associated with a social group such as a socioeconomic class, an ethnic group, an age group, etc.

Sociolects involve both passive acquisition of particular communicative practices through association with a local community, as well as active learning and choice among speech or writing forms to demonstrate identification with particular groups.

The concept of sociolect originally related to the distinctive linguistic forms that arise in oral communities. However, interaction in written and other media can also lead to sociolects, and many can be found in online communities.

Tạm dịch:

Trong ngôn ngữ xã hội học, “socialect” hay “social dialect” là sự đa dạng về ngôn ngữ (hay phương ngữ) kết hợp với một nhóm xã hội là một tầng lớp kinh tế xã hội, một nhóm dân tộc, nhóm tuổi, vv.

“Sociolect” gồm những thu nhận bị động trong thực tế giao tiếp đặc biệt, qua việc kết hợp với công đồng địa phương, cũng như học hỏi và chọn lựa chủ động giữa các hình thức nói và viết để biểu thị sự gắn bó với các nhóm riêng biệt trên.

Khái niệm “sociolect” có nguồn gốc liên quan đến các hình thức ngôn ngữ học đặc biệt xuất hiện trong các cộng đồng nói. Tuy nhiên, sự tương tác về viết và những trung gian khác cũng dẫn đến "sociolect", và có rất nhiều trong các cộng đồng trực tuyến.


Ý kiến riêng: 

Như thế có thể gọi “sociolect” là "phương ngữ xã hội", hay ngắn gọn: HỘI NGỮ.

Ví dụ: từ Sài Gòn có thể gọi là một "hội ngữ", vì nó là sự kết hợp giữa phương ngữ và dân tứ xứ. Các hội ngữ qua thời gian đều trở thành những phương ngữ.

Một số hội ngữ khác:

- Bự-chà-bá: Việt + Khơ-me
- Xì-trum: từ tiếng Pháp “Les Schtroumpfs”.

==================

Như đã nêu, từ personal và impersonal khiến tối chú ý vì có liên quan chút ít đến thời sự.

Tôi thống kê một số nghĩa của "personal":

- Cá nhân, riêng tư, đích thân, trực tiếp. Đặc biệt "personal pronoun" là "đại từ nhân xưng". Ai cũng biết rằng đại từ nhân xưng tiếng Việt hết sức phong phú.

Personality:: Nhân cách, tính cách.

Đặc biệt:

Personalities: những chỉ trích cá nhân.
Personality cult: tệ sùng bái cá nhân.
Personalism: thuyết nhân cách.

Ta có thể hiểu một cách hình ảnh như sau:



Do đó, từ impersonator không hẳn là "người vô cảm", tôi đề nghị một từ ngắn gọn và chính xác hơn:

Impersonator = Kẻ giả cách, người giả cách.

=============

Hyponym

Hypernym

Các từ điển chưa lí giải thỏa đáng 2 từ này. Tìm hiểu một số diễn giải tôi đề nghị:

- Hyponym: nghĩa hẹp, tương đương với loại (genus)

- Hypernym: nghĩa rộng, tương đương với loài (species)


Các từ như "denotation" và "connotation" tự điển Lạc Việt cũng diễn giải chung chung là "nghĩa rộng", song nghĩa rộng này không có mối quan hệ giữa loài (species) và loại (genus) nên tôi đã đề nghị dùng từ "nghĩa thô" và "nghĩa khéo" nhằm phân biệt với hyponym và hypernym.

Denotation: nghĩa thô.

Connotation: nghĩa khéo
.


Ví dụ:

- Người Việt Nam là một loại người châu Á. Điều này có nghĩa là:

- Người Việt Nam là nghĩa hẹp của người châu Á = người châu Á là nghĩa rộng của người Việt Nam.

Hoặc:

- Doanh nghiệp là nghĩa hẹp của thị trường, ngược lại, thị trường là nghĩa rộng của doanh nghiệp. 

...

Clip vui: Obama impersonator.
=====================

Phatic

Chưa thấy từ điển Anh-Việt nào cập nhật. Tham khảo một số nguồn tôi đề nghị dùng từ Việt tương đương:

Đẳng ngữ (hay tính đẳng ngữ)..

Có thể nhiều người Việt hiểu nó tương đương với sáo ngữ (cliché), vì nó không truyền tải thông tin cũng như đặt vấn đề, chỉ để tạo một không khí xã giao (như trong clip trên thì câu "how are you" của ông Obama impersonator có tính chất phatic - đẳng ngữ).

========================
Hai từ nữa cập nhật luôn:

Broadcast: Truyền thông rộng (phát thanh và truyền hình không dây, mang tính đại chúng).
Narrowcast: Truyền thông hẹp (phát thanh truyền hình có dây hoặc mang tính chất riêng tư như đtdđ).


...
======================
Tớ là người có tư duy hình ảnh, ngôn ngữ (hay từ ngữ) đối với tớ cũng giống như những khúc xương khủng long, những mảnh sành vỡ đối với nhà khảo cổ học. Đây là mô hình Dấu Hiệu Học mà tớ ghép nối, tổng hợp được với những khái niệm về ẩn dụ, hoán dụ, nghĩa rộng, nghĩa hẹp, nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa thô, nghĩa khéo...


Mở rộng mô hình này cho mọi đối tượng, tớ chọn khái niệm "doanh nghiệp" chẳng hạn. Tớ cũng đang muốn trở thành một nhà doanh nghiệp, cũng chẳng biết mô tê gì kinh tế với lại thị trường. Cách hiểu theo quan điểm Dấu Hiệu Học của tớ nó thế này:


Tớ ví doanh nghiệp như một mặt đồng hồ, các cây kim chỉ giờ có tính chất mục tượng và người ta cũng ví thời giờ như vàng bạc vậy. Mặt đồng hồ cũng có thể làm mô hình chỉ phương hướng của các hoa tiêu, lái tàu, phi công thế chiến xưa. Bốn hướng như trục tọa độ là bốn cách hiểu cơ bản về cái gọi là doanh nghiệp:

- Nghĩa rộng: là thị trường.
- Nghĩa hẹp: là doanh nhân và nhân viên.
- Nghĩa thô: là xưởng, cơ sở, văn phòng.
- Nghĩa khéo: là sản phẩm, dịch vụ.

Nghĩa hẹp tương đương với loại (genus), tức doanh nghiệp loại gì: lớn, trung, nhỏ...Nghĩa rộng tương đương với loài (species), tức thị trường có thể mở rộng từ phạm vi quốc nội sang Đông Nam Á, châu Á, Phi, Âu, Mỹ.

Các hướng (hiểu) chính là vậy, tương đương với các múi giờ là :6h, 9h, 12h, 3h.

Bốn góc còn lại tương đương:

- Xưởng, cơ sở - doanh nhân, nhân viên: góc quản lí, quản trị.
- Doanh nhân, nhân viên - sản phẩm dịch vụ: góc hoán dụ (nghĩa là một bộ phận nói lên toàn thể).
- Sản phẩm, dịch vụ - thị trường: góc tiếp thị, quảng cáo.
- Thị trường - xưởng, cơ sở: góc ẩn dụ (nghĩa là có liên quan đến môi trường, chế độ làm việc).

Đấy là mặt tĩnh của dấu hiệu "doanh nghiệp". Mặt động là sự vận động của nó, tương ứng với vận động của những chiếc kim đồng hồ. Tuy nhiên ở đây các góc độ sẽ bổ sung cho nhau làm cho doanh nghiệp vận động như một chiếc đĩa xoay tròn vậy. Việc xoay sẽ giữ cho đĩa cân bằng, tức doanh nghiệp ổn định.

Tớ thấy rằng mô hình này có thể dùng để đánh giá một doanh nghiệp
.
===================


Các từ:

Symbol
Icon
Index


đều có họ hàng thân thuộc với nhau, mà có họ hàng thân thuộc thì phải mang cùng một "họ". Các từ điển Anh-Việt đều dùng từ "tượng" cho "symbol" và icon", tôi đề nghị bổ sung "index" thêm "họ tượng" luôn thể.

Index: mục tượng.

Lưu ý: "mục" ở đây là "mục kích", là nhận biết trực tiếp, gần như là một phản xạ mà không qua suy luận. Vài ví dụ:







Cùng một hiện tượng có thể có 3 cách nhận thức khác nhau:


==============

Dystopia

Actant


Dystopia: từ điển Anh-Việt Lạc Việt dịch là "sự lạc chỗ". Hãy tham khảo một định nghĩa trực tuyến:

Dystopia: An imaginary place or state in which the condition of life is extremely bad, as from deprivation, oppression, or terror.

Tạm dịch:

Một nơi hay một tình trạng không thực với điều kiện sống cực kỳ tồi, như túng thiếu, bị đàn áp, hay khủng bố.

Rõ ràng từ imaginary" là "ảo, tưởng tượng" nên không thể gọi là "lạc chỗ" được. Tôi đề nghị dùng từ "lạc thời", tức giả tưởng.

Dystopia: lạc thời

Các từ liên quan là :

Dystopian novel: tiểu thuyết lạc thời.
Dystopian movies: phim ảnh lạc thời

======

Actant thì chưa có từ điển nào cập nhật. Đây là định nghĩa trực tuyến:

In narrative theory, actant is a term from the actantial model of semiotic analysis of narratives

Tạm dịch:

Trong lý thuyết tường thuật, actant là thuật ngữ trong mô hình "actantial" về phân tích dấu hiệu học tường thuật.

Tôi đề nghị:

Actant: vai phần

Vai-phần không phải là một tính cách mà là những yếu tố cấu trúc tích hợp của tường thuật.

...
===================

Articulation
Figurae


Các từ điển đưa ra những từ Việt tương đương thỏa đáng, tôi chỉ trình bày thêm khái niệm này về mặt Dấu Hiệu Học. Trong ngôn ngữ, người ta xem các từ ngữ có 2 mức cấu trúc mật mã và có tính khớp nối

- mức cao là khớp nối sơ cấp (first articulation) còn gọi là mức ngữ pháp với các đơn vị nghĩa là các từ.
- mức thấp là khớp nối thứ cấp (second articulation) còn gọi là mức âm với các đơn vị chức năng tối thiểu.

Có thể hiểu theo sơ đồ sau:


Ở mức khớp nối âm vị, Hjelmslev dùng từ "figurae" để chỉ các "đơn vị chức năng tối thiểu", là âm vị trong nói và tự vị trong viết, chúng là những yếu tố phi tạo nghĩa. Ở đây, ngoài các yếu tố âm vị, tự vị và những kí hiệu rỗng (empty signifer), tôi thêm vào một yếu tố phi tạo nghĩa nữa, tôi xếp những "đơn vị thao tác" trong Thư pháp cũng thuộc loại "figurae" (tôi chưa thấy có từ Việt ngắn hơn nên cứ tạm gọi là "figurae"). Theo đó thí 8 nét cơ bản của Thư pháp Hán và 3 nét cơ bản của Thư pháp Việt đều thuộc loại figurae - những yếu tố phi tạo nghĩa.

Gần đây có một vị GS ở Việt nam cho rằng đạo hàm trong toán học chẳng có ích lợi gì đối với học sinh cả. Nếu hiểu một cách hình ảnh cùng những từ tiếng Anh thì ta sẽ thấy rằng cái gọi là "figurae" của Hjelmslev tương đương với "đạo hàm" hay "vi phân" của toán học. Đây chính là điểm chung của toán học và ngôn ngữ.

- Đạo hàm: derivative. Từ này trong ngôn ngữ học còn có nghĩa "phát sinh, bắt nguồn".
- Hàm :function, còn có nghĩa "chức năng" như "đơn vị chức năng tối thiểu" (figurae) đã nêu trên.
- Vi phân: differential hay thường gọi là "vi biệt", cũng tương đương với "figurae - những đơn vị cấu trúc vi biệt thuần túy".
- Hàm ngôn: discourse, còn có nghĩa bài thuyết trình, diễn thuyết.


Đạo hàm là hệ số góc tiếp tuyến trong toán và vận tốc tức thời trong lí.

Việc phân chia các trường chuyên lớp chọn, chuyên toán chuyên văn...quá sớm của nền giáo dục Việt nam là một sai lầm hết sức tai hại.

==========

Tớ lục được bài phỏng vấn ông Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn lân Dũng tại đây:

http://hocban.com/tt_ct/1091-gs-nguy...-nhu-cuong.htm

Trong đó có đoạn này:
".....
Cần tạo bứt phá rõ rệt chấn hưng giáo dục

Giáo sư kỳ vọng như thế nào về nền giáo dục nước nhà?

Tôi mong Bộ GD&ĐT liên lết với Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam để chỉ cần trong 1 năm có thể hoàn thành Bộ Chương trình Giáo dục phổ thông trước khi đưa ra thảo luận rộng rãi, sau đó có thể thông qua tại một Hội đồng đủ quyền lực cấp Nhà nước. Chỉ tập trung một việc này thôi cũng đủ tạo ra một bứt phá rõ rệt trong sự nghiệp chấn hưng giáo dục.

Tôi nhớ tới lời phát biểu của bạn tôi, thầy Văn Như Cương: "Trừ các nhà Toán học ra còn thì trong xã hội chả có ai dùng đến đạo hàm, tích phân. Vậy bắt học sinh học để làm gì?"

Giáo sư muốn nhắn nhủ gì đến những người làm công tác giáo dục?

Chỉ cần ghi ghi nhớ một lời dạy của Bác Hồ: "Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt, học tốt".

Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!".


...


Hàm ngôn của Bác và "đạo hàm" tại các vị trí "dù-phải-tốt" cũng là các hệ số góc...

Mai chủ nhật chẳng phải cày cấy mà buổi chiều lại uống đến 2 tách cafe...
==============
Derivative

Cái từ "derivative" này thú vị đây ! Tiếng Anh có một từ là "Tao" mà tôi nghĩ nó có nguồn gốc tiếng Hán. Tôi thì thấy rằng chính khái niệm "derivative" mới gần với khái niệm Đạo của người Việt hơn. Đạo không những là "đường đi" mà còn là "hướng đi". Các câu:

Uống nước nhớ nguồn.
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.

Ta đều thấy khái niệm "derivative" trong đó. Đạo của người Việt cũng rất gần với những khái niệm của Kinh Dịch:

Cùng tất biến, biến tất thông.


Trong mô hình trên thì:

- dx tiến đến không là cùng.
- Khi đó tỉ số sẽ biến thiên về một giá trị nhất định.
- Nếu tỉ số trên tồn tại thì hàm số liên tục tức thông.

Và câu này cũng có bóng dáng của Derivative:

Vạn sự khởi đầu nan.

Kết luận của tôi là độ hoàn thiện của công việc phụ thuộc vào vận động (function) và đạo (derivative) tức mức độ phân chia từ thô thành những thành phần đơn giản hơn có liên quan mật thiết với nhau, như một dây chuyền sản xuất chẳng hạn.

================

Ba từ có liên quan nhau về lĩnh vực điện ảnh, hai trong số đó chưa được cập nhật:

Iconic figure: nhân vật hình tượng.
Seme: siêu hình tượng.
Cinemorph: kiểu mẫu điện ảnh.


=============

Nền giáo dục Việt nam chia các phân ban (hay lớp chuyên) và ai cũng cho rằng có sự khác biệt khá rõ giữa tư duy toán học và văn học. Về mặt mật mã tôi thấy rằng toán học (hay các biểu thức, phương trình toán học) lại có mức mã hóa thấp (hay mức thứ cấp), vì các kí hiệu toán học có thể phân tích thành những "figurae" (những đơn vị chức năng tối thiểu và không có nghĩa), khác với ngôn ngữ gồm 2 mức khớp nối: mức ngữ pháp (mức cao hay sơ cấp) và mức âm vị (thứ cấp). Jacques Derrida cũng có đề cập về một thứ khoa học, gọi là "Ngữ pháp học" (Grammatology). Khoa học này có thể khác với khoa học toán học. Chúng ta thường hay gặp hiện tượng nhà toán học làm thơ và nhà thơ lại thích làm toán, thậm chí có mấy ông giáo sư Toán còn muốn ...vứt luôn cả việc học đạo hàm nữa (!?). Quả là nền giáo dục lệch lạc !


...==============

Advertorial: advertisement + editorial: siêu quảng cáo trên báo.
Infomercial: information + commercial: siêu quảng cáo truyền hình
Edutainment: education + entertainment: vui học.
Docudrama: documentary + drama: kịch hóa sự kiện.
Faction: fact + fiction: hư cấu hóa sự kiện.


Những người làm chuyên môn đều biết các khái niệm này, song chưa chuyển sang từ Việt tương đương. Ngôn ngữ theoqui luật biểu tượng hóa (đây là qui luật do tôi đặt ra). Bạn nhìn thấy chữ "advertorial" cũng như lần đầu tiên bạn nhìn thấy một con voi, và bạn nghe người ta gọi con vật đó là "con voi" thì đó chính là qui luật biểu tượng hóa của ngôn ngữ, nó đi từhình ảnh, khái niệm sang hình tượng, rồi đến biểu tượng ngắn gọn hơn. Các từ mới trên cũng có đôi chút tính chất "hội ngữ", do kết hợp của nhiều tổ chức, nhiều phương tiện truyền thông...

Thanh thiếu niên Nhật dường như rất thích truyện tranh. Các nhân vật như Seme và Uke đều là những "siêu hình tượng". Cái gọi là "siêu hình tượng" và "mẫu điện ảnh" cũng phát triển theo qui luật biểu tượng hóa. Qui luật biểu tượng hóa có thể là qui luật phát triển vào bên trong, nghĩa là người ta kết hợp các hình tượng thành một hình tượng mới rồi đặt tên cho nó. Bạn có thể tham khảo sơ đồ sau:


Qui luật này cũng có thể là qui luật phát triển ra bên ngoài. Ví dụ như tượng Nữ Thần Tự Do.

Thiết nghĩ các nhà làm truyện tranh Việt nam cũng nên tuân theo qui luật này.


=================

Tôi trình bày lại ý tưởng trên như sau:

Theo cách hiểu này thì truyện tranh góp phần phát triển tư duy hình ảnh, vì hình tượng và siêu hình tượng có tác động tâm lí mạnh hơn hình ảnh thực và hình chụp. Nói chung là nghệ thuật, nhất là nghệ thuật thị giác có thể có tác động nhất định đến tư duy và trí tuệ. Mật độ hình tượng cũng có thể giúp phát triển cả về mặt ngôn ngữ. Chúng ta nên đặt lại vấn đề về tư duy trừu tượng toán học, nhất là đại số. Những trường chuyên toán đang phát triển tài năng hay đang hủy hoại tài năng? Tôi trình bày thêm một ví dụ cụ thể hơn:


Tượng Nữ Thần Tự Do ở New York là một siêu hình tượng phát triển từ hình tượng Libertas ban đầu, sau đó bức tượng này đã trở thành biểu tượng nước Mỹ. Libertas là nữ thần được dân nô lệ thờ phụng thời cổ đại La Mã cùng thời với Hai Bà Trưng, song bức tượng ở New York mang phong cách đương đại và hiện đại hơn hình ảnh cổ.


...

Cũng xin nói thêm là Nữ Thần Tự Do (Libertas) là hình tượng cùng những phẩm chất được nhân cách hóa (personified virtues) thời cổ đại La Mã và được người nô lệ tôn thờ. Trái với hình tượng Libertas, Hai Bà Trưng và Bà Triệu là những nhân vật thật trong lịch sử Việt nam. Chúng ta thường nghĩ về các Bà như những nữ tướng dũng mãnh chống giặc phương bắc hơn là hình tượng về giải phóng nói chung, thậm chí có thể tiến đến một siêu hình tượng về tự do như Libertas hay Statue of Liberty. Một nghìn năm bắc thuộc có lẽ là thời kì người Việt chưa biết đến khái niệm giải phóng hay tự do. Chỉ có thể nói rằng đó là do người Hán một mặt tận diệt văn hóa bản địa mang nhiều đặc tính hình tượng và biểu tượng, một mặt hạn chế truyền bá văn hóa Hán như chữ viết...

Tôi cũng đã định nghĩa về tự do - Tự do là vươn tới biểu tượng.

Một số hình ảnh về Libertas:





Một số hình ảnh Hai bà Trưng và Bà Triệu:





Tranh Đông Hồ:


Có thể nói trong trường hợp này (hình tượng - siêu hình tượng - biểu tượng) là sự kết hợp giữa các khái niệm tương đương (chống giặc - giải phóng - tự do).

...
So với tranh Đông Hồ thì hình ảnh Bà Trưng ở sách tiếng Việt lớp 3 quả là hoành tráng, sự hoành tráng này cũng không vượt trên tầm chủ đề, nó chỉ cường điệu hóa những gì ta thấy ở bức tranh Đông Hồ. Một sự thực nữa là tranh Đông Hồ cũng đang lùi dần vào lịch sử. Những con voi lại trở nên to lớn dị thường như voi ma mút, bức tranh như khắc sâu vào tâm trí lũ trẻ như một mệnh đề Đại số:

Bà Trưng = Đánh đuổi quân Nam Hán, chẳng khác nào
3.5 = 15 của bảng cửu chương.

Bức tranh dân gian Đông Hồ vẽ Bà Trưng mộc mạc hơn, tuy ta thấy không thực nhưng rất ấn tượng về mặt hình tượng.

Ở trên tôi có đề cập về tính chất mục tượng (index) trong dấu hiệu học, hình ảnh Bà Trưng trong các bức tranh xưa cũng như hiện đại đều còn mang tính chất mục tượng. Liệu có sự tương đồng giữa Mục tượng và Đại số không? Lâu nay chúng ta vẫn hiểu "index" là "mục lục" nghĩa là nó bị khoanh vùng trong những việc tra cứu mà thực ra chính chúng ta đang chịu ảnh hưởng quá mạnh của nó, được thể hiện trong nghệ thuật và cả toán học hiện đại. Đây có thể là một minh chứng, rằng chúng ta vẫn chưa có khái niệm đúng đắn về "giải phóng" và trên đó là "tự do". Ý thức hệ phong kiến xưa vẫn "chặn ở hai đầu": được làm vua thua làm giặc là thế. Ý niệm về giải phóng và tự do nằm trong khoảng giữa đa chiều đó: không vua và cũng không giặc...


...
Mấy bữa nay bận quá, hôm nay uống một chai bia mà váng hết cả đầu. Tôi sẽ cố gắng phát triển ý tưởng đã nêu (vẫn chưa có thì giờ để viết sách). Kurt Godel đã chứng minh định lí bất toàn, thế bạn hiểu định lí này như thế nào? Tất thảy các nhà toán học, nhà khoa học đều là những "thầy bói mù xem voi", nghĩa là không ai đúng cả, song sự kết hợp (hay thống nhất) của họ có thể tạo nên một điều đúng tương đối. Tôi đã phát triển ý tưởng này để định nghĩa về phát triển - phát triển là sự thống nhất ngẫu nhiên trong một xã hội đa xu hướng. Nhiều nhà khoa học Việt nam dường như ...cố ý không hiểu định lí bất toàn, họ vẫn có tham vọng "vẽ voi" với các Viện nghiên cứu này nọ. Thế tôi hiểu định lí bất toàn như thế nào? Tôi hiểu thế này, chẳng hạn:

3 + 5 = ?

Ai cũng biết rằng sau dấu "=" là "8", nhưng với định lí bất toàn thì sau dấu "=" chỉ là một dấu hỏi. Câu trả lời phụ thuộc vào văn cảnh, nghĩa là người trả lời là người Miến Điện hay Việt nam chẳng hạn. Với người Miến thì có thể bạn sẽ trả tiền thấp hơn chút so với người Việt. Chúng ta khi ngồi trên ghế nhà trường vẫn làm toán đại số ào ào, thậm chí nhiều trường chỉ chuyên dạy học sinh làm toán, đến nỗi có ông giáo sư toán bỗng gãi đầu tự hỏi - chúng ta làm toán để làm gì nhỉ? Và "chỉ có nhà toán học sử dụng đạo hàm. Vậy cần gì phải dạy học sinh"(!?). Không biết họ "chấn hưng giáo dục" bằng cách nào? Chỉ bằng cách nghe lời Bác thôi sao(!?).

Học toán và đại số vẫn cần thiết, song chúng ta học toán không phải để tìm đáp số, chúng ta nên làm toán để đặt vấn đề, nghĩa là câu trả lời trong văn cảnh nào là có lợi nhất. Đấy cũng là nội dung của định lí bất toàn toán học.

Một số siêu hình tượng của một họa sĩ Nhật vễ về Việt nam:











=================

Bricoleur
Bricolage


Đều là từ Pháp.

Bricoleur là một người tháo vát nói chung, thường là tự học hay nghệ sĩ tài tử. Có thể gọi là:

1. Thợ cả
2. Nghệ sĩ ứng tác.



Bricolage có 2 nghĩa chính, tôi tạm dùng 2 từ tiếng Việt:

1. Ứng cụ: tất thảy những gì trong tầm tay được ứng dụng một cách sáng tạo, linh hoạt, khéo léo (công cụ hóa).
2. Ứng tác: tác phẩm được sáng tạo ngẫu hứng bằng những ứng cụ.



Ứng tác của Gary Jackson:




Một số ứng tác:






Bricolage còn mở rộng sang các lĩnh vực: âm nhạc, kiến trúc, triết học, nghiên cứu văn hóa, giáo dục, thông tin, kinh doanh, thời trang.

============
Đến đây thì tôi nhớ đến câu đầu tiên của Đạo Đức Kinh (Lão Tử) - Đạo khả Đạo, phi thường Đạo. Có nhiều cách giải nghĩa câu này. Tôi cũng chưa hiểu hết được, chỉ cảm nhận rằng câu này có liên quan đến những vấn đề đã đề cập trong đây, rằng hẳn người Việt chúng ta chưa hề biết đến cái gọi là "mục tượng", mà nghịch lí thay, chính điều mà chúng ta chưa biết hay đúng hơn là chưa đặt tên này lại đang chi phối nhận thức hàng ngày của chúng ta. Nhìn một cách tổng thể thì xã hội VN là một bức tranh chụp giật bấu vá và ít ai bỏ thì giờ ra chiêm nghiệm bức tranh này, kẻ cả các họa sĩ VN. Đến khi có những họa sĩ nước ngoài như họa sĩ Nhật ở trên vẽ lại xã hội VN thì ta mới nhận thấy góc độ nghệ thuật của nó. Điều này chứng minh rằng "mục tượng" chi phối mọi tầng lớp xã hội VN, từ người bình dân cho đến trí thức, nghệ sĩ. Nó cũng chứng minh rằng người Việt chúng ta chưa tự giải phóng mình về mặt nhận thức và tư duy. Hơn thế nữa, chúng ta đã đi lùi về mặt nghệ thuật so với hàng trăm năm trước khi so sánh tranh Đông Hồ và tranh trong sách GK của học sinh ngày nay (vẽ Bà Trưng, Bà Triệu). Tôi phát hiện ra điều thú vị này vì trong tự điển tiếng Việt không hề...có những khái niệm như thế. Có những mối liên hệ giữa mục-tượng (index) với ứng-tác (bricolage), và những tương đồng về tổng quan xã hội VN với những khái niệm đó. Ngay cả việc quảng cáo, từ các chương trình cho đến nhà chuyên môn cũng phô bày một cách lộ liễu. Các phát ngôn viên còn gọi là "thông tin thương mại" một cách khá chân thực và trìu mến nữa. Rõ ràng đa số chúng ta chưa hề biết đến một mức độ quảng cáo cao hơn, ít trần trụi hơn, thậm chí những phô diễn của quảng cáo hiện đại có thể khiến nhiều người Việt hiểu một cách dung tục về chúng. Phim ảnh, kịch nghệ cũng cùng chung một tư duy như thế. Phim Bụi đời Chợ Lớn chẳng hạn, tuy tôi chưa xem song tôi nghĩ sẽ cần một quá trình trình chiếu và phê phán.

Quay lại với câu nói của Lão Tử thì tôi có thể hiểu: đạo mà ta biết rằng đó là đạo thì đạo này (sẽ) không thường xuyên chi phối ta, hay điều mà ta đã đặt tên cho nó thì điều này (sẽ) không thường xuyên chi phối chúng ta.


===============


Lại có scandal dịch thuật. Nay đến lượt Trần Tiễn Cao Đăng với từ "cooze" trong "The Things They Carried" của Tim O'Brien. Ngay cả tựa đề dịch là "Những Thứ Họ Mang" cũng chưa hay lắm. Tớ thì tớ dịch là "Điều Họ Mang Theo", mang theo những điều cay đắng...So với người lính VN cộng hòa thì Chuột Kiley cô đơn và cay đắng hơn nhiều. Đây, một trong những niềm an ủi nhỏ nhoi:

Chiến tranh đem thân trai đi ngàn phương
Đời chỉ ân ái với cánh thư hồng ấp yêu.
(Lam Phương)
.

Đây là nguyên văn:

As a first rule of thumb, therefore, you can tell a true war story by its absolute and uncompromising allegiance to obscenity and evil. Listen to Rat Kiley. Cooze, he says. He does not say bitch. He certainly does not say woman, or girl, He says cooze. Then he spits and stares..

Đoạn dịch của Cao Đăng:

Vì vậy quy tắc đầu tiên là: bạn chỉ có thể kể một câu chuyện chân thực về chiến tranh bằng cách trung thành tuyệt đối với cái ác và với sự tục tằn. Hãy nghe Chuột Kiley mà xem. Con mặt l**, hắn nói. Hắn không nói con đ* c**. Hắn chắc chắn là không nói bà ấy, hay cô ấy. Hắn nói con mặt l**. ...

Đoạn "trung thành tuyệt đối với cái ác và với sự tục tằn" có vẻ ngây ngô, tối nghĩa, thậm chí là trái ngược hẳn với nguyên văn. Ông Đăng hình như bỏ sót từ "its". Có vấn đề về cái gọi là "trung thành":

- allegiance: lòng trung thành, song còn có nghĩa: bổn phận, hoặc nghĩa vụ.

Và còn bỏ sót cả từ "uncompromising"(bất thỏa hiệp, kiên quyết, không nhượng bộ). Có thể hiểu là:

...nghĩa vụ tuyệt đối và kiên quyết của nó đối với sự cục súc và cái ác.

Không phải người kể phải "trung thành tuyệt đối với cái ác và sự tục tằn" (!?), mà chiến tranh có tính chất tuyệt đối và kiên quyết với sự cục súc và cái ác. Vì hai bên tham chiến bên nào cũng cho rằng đối phương "cục súc" và "ác", không ai có thể thỏa hiệp với những điều như thế. Đấy là cái sai về ngữ pháp của Cao Đăng.

Cái sai chính là từ "cooze". Từ này chịu ảnh hưởng của toàn bộ văn cảnh. Từ này giữ vai trò khá "trung lập" trong văn cảnh, nó nói lên tính chất nông cạn, ngốc nghếch, vờ vịt. Một tính cách hết sức là "vô tình" của một cô gái ở hậu phương nước Mỹ. Không:

Như bông hoa chờ đợi, mưa gió không phai tàn
Ngày về nụ hoa ngát hương
Anh ơi, em lại đón anh về...


Rõ ràng Chuột Kiley không chối từ tình dục, vì hắn không gọi "ả lẳng"(bitch), cũng không thiếu đàn bà con gái. Anh ta cần một điều gì đó cao hơn, đối lập với sự cục súc và cái ác. Anh ta cần sự đồng cảm. Vì thế theo tôi chỉ cần dùng từ "ả ngốc" hoặc "ả mít đặc" là đủ.

...Vì thế kinh nghiệm trước tiên là, bạn có thể kể một câu chuyện thực về chiến tranh bằng nghĩa vụ tuyệt đối và kiên quyết của nó đối với sự cục súc và cái ác. Hãy lắng nghe Chuột Kiley. Con mít đặc, cậu ta nói. Cậu ta không nói ả lẳng. Cậu ta hẳn không nói chị hay em. Cậu ta nói con mít đặc. Rồi cậu ta nhổ toẹt và nhìn chòng chọc...
Cay đắng thay, chính Kiley cũng nhận được "bổn phận tuyệt đối và kiên quyết" của cô mít đặc đối với chính mình...

Chuột Kiley nhổ đây là nhổ vào chính những gì cậu ta đã viết cho cô gái ngốc đó, vì chỉ có ngốc mới viết cho một cô mít đặc...

...==============

Sự cố dịch thuật của Trần Tiễn Cao Đăng khiến tớ phải xem xét lại mô hình của mình. Đây là mô hình trước:


Độc giả thì lúc nào cũng ý thức rằng họ đang đọc truyện dịch. Chính tựa sách đã "bỏ neo" ý thức của độc giả về văn bản. Bản tiếng Việt chỉ có sắc thái khác với bản gốc, giống như ta xem một cuốn phim nước ngoài có lồng tiếng Việt vậy (lồng tiếng chứ không phải thuyết minh hay phụ đề). Do đó mọi nỗ lực "Việt hóa" văn bản sẽ khiến văn bản...chẳng giống ai cả, nó khiến độc giả rối loạn (vì họ đã luôn ý thức rằng họ đang đọc truyện dịch). Nếu như khi xưa Nguyễn Du viết Kiều với đề tựa "phóng tác từ Kim Vân Kiều Truyện" thì ắt hẳn sẽ có những nhận xét phê phán vì độc giả sẽ so sánh với bản gốc. Mô hình trên là mô hình tổng quát. Để dễ hình dung, tôi đưa một mô hình chi tiết hơn:


Như trong câu của Tim O'Brien thì ông Đăng đã sai về ngữ pháp (câu "...bằng cách trung thành tuyệt đối với cái ác và sự tục tằn..."). Cái sai về ngữ pháp đã dẫn đến cái sai về văn cảnh. Ở đây chính ông Đăng (chứ không phải Tim) "phải trung thành tuyệt đối với sự tục tằn" nên mới dẫn đến "sự cố cooze". Hơn nữa, mọi từ điển tiếng Anh đều nói rõ rằng từ "cooze" chỉ là từ lóng, không có nghĩa đen. Cái sai văn cảnh này thuộc về ngữ đoạn, nghĩa là các sự kiện trước đó dồn về theo cách đọc từ trái qua phải. Thế nên ông Đăng cũng biện hộ theo logic ngữ đoạn này. Tuy nhiên, văn bản còn có văn cảnh cú pháp nửa, nó được tạo nên theo chiều dọc văn bản và rộng hơn văn cảnh ngữ đoạn. Chính văn cảnh cú pháp mới nói lên tâm trạng của Kiley, cậu ta muốn một điều gì đó đối lập với sự cục súc và tàn ác của chiến tranh (như một lời biện hộ rằng bản chất cậu ta không hề cục súc và tàn ác).Văn cảnh ngữ đoạn chỉ bó hẹp trong phạm vi văn bản, còn văn cảnh cú pháp mở rộng hơn ra ngoài phạm vi văn bản (như thời kì chiến tranh VN nói chung) và cả thời điểm hiện tại khi cuốn sách được phát hành. Sự kết hợp của hai loại văn cảnh này quyết định việc chọn lựa từ ngữ tiếng Việt thích hợp. Trong văn cảnh câu trên thì nếu cô nàng mít đặc kia hồi âm thì đúng ra Kiley phải nói "bitch" (nếu có cô nàng có vẻ lẳng lơ), và nói "woman" (nếu cô lớn tuổi hơn Kiley - 19 tuổi) và nói "girl" (nếu cô còn đi học). Thế nên ta hoàn toàn có thể chuyển ngữ thành "chị" và "em", thay vì "bà" và "cô"....

============


Các từ "định hướng" và "xu hướng" khiến mình chú ý đây. Thử chuyển sang Anh ngữ xem sao.

ĐỊNH HƯỚNG:

- To orient: quay về hướng Đông.
- To orient oneself: định hướng.

Chữ "orient" chỉ phương Đông hay hướng Đông nói chung. Chữ này cũng liên quan đến chiếc la bàn là phát minh của người TQ. Từ điển trực tuyến định nghĩa như sau:

1. To locate or place in a particular relation to the points of the compass: xác định hoặc đặt (một cái gì đó) tương quan với mũi tên la bàn.

2.
a. To locate or position so as to face the east: định vị hoặc bố trí sao cho quay về hướng đông.
b. To build (a church) with the nave laid out in an east-west direction and the main altar usually at the eastern end: xây (nhà thờ chẳng hạn) với gian giữa trải dài theo hướng đông-tây và bệ thờ chính nằm ở cuối cánh phía đông.

3. To align or position with respect to a point or system of reference: (oriented the telescope toward the moon; oriented her interests toward health care): sắp xếp hoặc bố trí thẳng hàng với một điểm hoặc hệ thống tham chiếu (hướng viễn vọng kính về phía mặt trăng; hướng mối quan tâm của cô ấy đến việc chăm sóc sức khỏe).

4. To determine the bearings of: quyết định ý nghĩa của cái gì đó.

5. To make familiar with or adjusted to facts, principles, or a situation: làm cho quen hoặc thích nghi với sự kiện, nguyên tắc hay tình huống.

6. To focus (the content of a story or film, for example) toward the concerns and interests of a specific group: tập trung (nội dung của một câu truyện, phim) vào doanh nghiệp hoặc lợi ích của một nhóm đặc biệt (Việt nam gọi là "lợi ích nhóm").

Đặc biệt:- To turn toward the east: quay về phía đông.

Vậy ta có thể hiểu "định hướng xhcn" như thế nào ? Có lẽ là - To orient the economy toward socialism.

Có lẽ người phương Tây hiểu cái gọi là "định hướng" rõ hơn chúng ta, qua chính cái từ "orient" của họ.

XU HƯỚNG 

Từ phổ biến là "tend", từ điển Lạc Việt:

To tend a patient: chăm nom người bệnh.
To tend a machine: giữ gìn máy móc.

To tend a store: phục vụ cửa hàng, bán hàng.

To tend upon someone: phục vụ ai.

Women tend to live longer than men: phụ nữ có chiều hướng sống thọ hơn nam giới.
The track tends upwards: con đường hẻm hướng đi lên.
All their efforts tend to the same object: mọi nổ lực của họ đều cùng nhắm đến một mục đích.

Rõ ràng "định hướng" và "xu hướng" là hoàn toàn khác nhau. Định hướng tự nó chỉ có một chiều và có vẻ áp đặt hay giáo điều, còn xu hướng tự nó đã là đa chiều.

Hai khái niệm cũng loại trừ lẫn nhau. Nếu một người được định hướng thì khó mà có xu hướng riêng và ngược lại, một người có xu hướng cũng khó mà định hướng họ được. Xu hướng nói lên tính chất phong phú đa dạng của xã hội. Ngược lại, thực tế các xã hội định hướng thường là độc tài toàn trị. Giải cấu trúc xã hội VN nên tập trung vào hai khái niệm then chốt này, nhất là về Giáo dục và Kinh tế-Xã hội...

Mô hình dịch thuật trước tôi quên thêm vào chiếc...mỏ neo, một khái niệm của Roland Barthes. Mọi truyện dịch đều "bỏ neo ý thức" độc giả bằng tựa đề, tên tác giả, lời giới thiệu. Trong suốt quá trình đọc họ luôn ý thức được điều này, vì thế mọi nỗ lực "Việt hóa" bản dịch đều ít nhiều gây rối độc giả.


...

Hạ Viện.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét